Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2009

Bánh bao chỉ... ngon ơi là ngon!


-->
Tháng bảy âm lịch đã về quê đốt nhang cho cha má. Tháng tám Trung thu, chỉ về nhà ở Gò Vấp đốt nhang ở bàn thờ. Mua lung tung xèng rồi về nhà, ngại cái lô cốt ĐBP thế là vòng đường bờ kênh đi ngõ sân bay.
Dù sao thì đường Trần Huy Liệu đã thành đường một chiều cả tháng nay rồi, đi ngõ nào cũng phải xuôi NKKN xuống sân bay mà thôi.
Trên đường chợt nhìn thấy mấy cái tấm bảng chưng hàng chữ "Bánh bao chỉ, Ngon ơi là ngon!". Lại nhớ cha má ngày còn sống đều rất thích ăn bánh bao chỉ.
Thế là lon ton ghé vào:
- Chào con, cái bánh bao chỉ ngon ơi là ngon đó... bán làm sao?
- Dạ, ba ngàn một cái.
- Hiiii, họ nhà bánh bao chắc bà con với xăng dầu.
- Dạ hổng có đâu cô. Bánh bao có mùi xăng là khỏi ăn luôn.
- Thế à!
Tôi buồn cười. Người đâu mà thật thà quá. Mà cũng không biết ai mới thật thà nhỉ? Mua xong rồi tôi mới cười cười bảo:
- Ngon ơi là ngon nên mới lên giá như xăng dầu đó hả? Hồi trước, chỉ 500 - 1000. Bây giờ trượt giá, leo tuốt lên mây ngồi luôn, nóng lạnh quá! Heeeeee. Chúc con bán hết hàng nha.
- Dạ, cám ơn cô. Giá đó là chủ giao bán, con chỉ ăn lương thôi.
Trên đường về nhà mới để ý cái logo "Bánh bao chỉ, ngon ơi là ngon" đó tràn ngập các lề đường như bán báo dạo vậy. Tự nhiên lại ngớ ngẩn nghĩ tới những người bán thuê ấy. Không hiểu cái khu nhà trọ bánh bao chỉ này sẽ ở đâu nhỉ? Có lẽ sẽ nằm đâu đó cạnh khu nhà trọ của những người bán hủ tíu gõ, xôi vò, cơm rượu...
Thử đoán xem người bán sẽ được bao nhiêu phần trăm trên giá một cái bánh bao chỉ đó?
Thử đoán xem một ngày họ có thể thu nhập bao nhiêu? Cái tủ con con như cái tivi 14inch đó, sức chứa tối đa theo tôi khoảng 1.000 cái.
1.000 cái lận đó. Chắc chẳng có ai xuất sắc trong vai bán bánh bao chỉ đâu nhỉ.
Lan man thế thôi, chỉ là tôi rất thích cái logo dụ khị vui vui đó. Là tôi nhớ cha má, là cái gì nữa tôi không biết, chỉ biết là khi nhìn thấy hàng chữ logo đó, tự nhiên lại nhe răng ra cười mà lòng thật thì buồn và nhớ mênh mông! Cũng không rõ chính xác là mình buồn nhớ cái gì.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009

TIẾNG HÓT CON CHIM CHÌA VÔI


Quê hương trong bóng con đò
Trong câu hát bội, trong lời mẹ ru
Quê hương trong tiếng lá reo
Tiếng chuông chùa đổ, khói chiều miên man
Quê hương trong vắt ao làng
Vẽ đôi cò trắng về ngang liếc nhìn
Ta đi mấy núi, mấy non
Thấy con đò - nhớ, thấy sông xa - buồn
Tiếng đàn bầu đầy nhớ thương
Bé Tú ngồi ở bậc cửa sau nhà, nhìn con chim chìa vôi với bộ lông có hai màu đen và trắng đang nhảy nhót trên cây me mọc sát bờ sông. Mỗi lần con chim cất tiếng hót, Tú lại cười khanh khách vì giai điệu hót của con chim giống hệt như một câu cha hay nói: “Tú ơi, bây giờ Tú sợ bị đét, bị đét!”. Tất nhiên là còn thiếu một chữ quan trọng mà cây roi của cha hay hăm he, bởi vì tiếng hót của chú chim chìa vôi chỉ có thế.
Ông Nhã nghe tiếng con gái cười, ông cũng cười một mình. Nó chịu cười, vậy là có thể để nó lại quê với ông bà. Ông nghe tiếng cha mình đang trò chuyện với con gái, tiếng bé Tú vui vẻ nói chuyện véo von với ông nội. Thì ra nó đang nói cho ông nội nghe vì sao nó cười khi nghe con chim chìa vôi hót. Tiếng mẹ ông cười hỏi bé Tú:
- Vậy con đã bị cha đét đít bao giờ chưa?
- Dạ chưa. Cha chỉ hăm dọa thôi, con biết mà.
Hai ông bà già rất mừng vì cuối cùng con trai đã chịu gởi đứa út xinh xắn về quê với mình. Mỗi lần ông bà nội lên Sài Gòn thăm con cháu, cô bé út này hay quấn lấy ông bà nói đủ thứ chuyện và cười suốt ngày. Không như mấy đứa lớn, chỉ chào hỏi xong là biến đâu mất.
Thật ra ông Nhã không muốn xa đứa con út. Ngày nào đi làm về, ông đều thấy bé ngồi trên bậc tam cấp trước cửa, hai bàn chân nhỏ xinh nhịp nhịp, bàn tay bé xíu chống cằm chờ ông. Gương mặt sáng rỡ vẻ tinh nghịch rất đáng yêu của nó luôn làm ông cảm thấy mọi mệt nhọc sau một ngày làm việc đều không còn. Viện cớ bé Tú còn nhỏ quá, về cha mẹ không tiện chăm sóc, hè năm ngoái, ông Nhã cho con gái lớn đang học lớp mười về. Ở chưa hết một tháng, con gái khóc lóc đòi về Sài Gòn vì ở quê buồn quá. Hai đứa kế thì lắc đầu quầy quậy khi nghe cha hỏi. Chỉ mỗi cô nhóc nhất nhà thì vừa nhảy nhót, vừa vỗ tay vì được về quê thăm ông bà nội.
Bé Tú rất thích vì ông bà cho quá trời đồ chơi. Nó ngồi giữa một đống đồ chơi, chỉ hơi ngoảnh lại khi ông Nhã đi. Ông Nhã đã ngồi lên chiếc Vespa, nhưng lại quay trở vào, bồng con gái lên áp chặt vào ngực. Ông cố tình đưa cái cằm râu mấy ngày không cạo, cọ vào má nó. Bé Tú nhột, cười khanh khách. Nó lấy tay đẩy mặt cha ra bảo:
- Mặt cha toàn là gai, không cho hun nữa đâu.
- Con ở đây với ông bà nội, chủ nhật cha về thăm con.
- Dạ. Cha đi đi, cho con xuống chơi đồ chơi.
Ông thả xuống là nó chạy vào giữa đống đồ chơi ngay.
Mới xa con gái một chút, ông Nhã bắt đầu thấy nhớ. Bình thường, ông không như thế này. Có lẽ vì ông biết từ nay, mỗi chiều sẽ không thấy cô bé ngồi nhịp chân, chống cằm mong đợi ông trên bậc thềm nhà.
Buổi tối, bé Tú hỏi:
- Nội ơi, sao không thấy cha về? Trời đã tối rồi mà?
- Mấy ngày nữa cha mới về.
- Mấy ngày là trời sáng hả nội?
- Ừ.
- Bây giờ tối quá, cha không thấy đường chạy xe đâu. Con buồn ngủ quá, khi nào cha về, nội nhớ gọi con nha.
* * * * * *
Chỉ vài ngày là bé Tú chán đồ chơi. Nó lang thang trong vườn một mình. Một buổi trưa, bà nội bắt gặp bé Tú đang ngồi nói chuyện với mấy con kiến đang bò dưới kẽ đất bên hông nhà:
- Mình bây giờ, mình nhớ cha mình lắm. Mình nhớ chị Ngọc Diệp, anh Hiếu Dũng và chị Ngân Hoa nữa. Không ai về chơi với mình. Mình bây giờ, mình buồn lắm.
Giọng bé rưng rưng như sắp khóc. Bà nội thương quá lại ôm nó vào lòng nói:
- Con có muốn về nhà với cha và anh chị không?
- Dạ có.
- Nhưng con đi thì ông bà buồn lắm, làm sao đây?
- Ông bà buồn như con bây giờ đó hả?
- Ừ. Buồn muốn khóc luôn.
- Vậy con không đi, con ở đây nha, nội đừng khóc.
Bé Tú đưa bàn tay nhỏ vuốt má bà nội, đôi mắt nó mở to nhìn chăm chú xem bà nội có vui không, thấy bà cười mà nước mắt tràn ra mi, nó ngập ngừng hỏi:
- Sao bà nội khóc?
- Bà nội không khóc, bà vui vì con không bỏ ông bà nội mà đi.
- Nhưng con buồn lắm, con phải khóc mới được.
Nói xong, bé Tú khóc òa lên. Ông bà nội luýnh quýnh không biết làm sao, chỉ biết loanh quoanh đưa hết thứ này, đến thứ khác cho nó chọn, nhưng nó đều lắc đầu. Phải gần cả tiếng đồng hồ nó mới ngưng khóc.
Từ hôm ấy, bé Tú không nhắc đến chuyện đòi về. Ông bà biết nó vẫn rất mong cha vì ngày nào nó cũng tự tay bóc tờ lịch và thông báo với ông bà hôm đó là thứ mấy. Chiều thứ bảy nào nó cũng bắc cái ghế con ngồi ngoài ngõ, chỉ chờ thấy bóng xe cha nó ở đầu đường là hối hả chạy ra đón. Cả ngày chủ nhật, nó quấn quít bên cha, dẫn cha đi xem hàng cây cải hay hàng ớt nó mới trồng, rồi bắt cha nó xách nước tưới cho cây của nó. Sáng thứ hai khi cha nó đi thì nó vẫn còn ngủ. Lúc dậy rồi, nó chỉ làm một chuyện là lại xé một tờ lịch và thông báo.
* * * * * *
Ông nội dẫn bé Tú xin vào học dự thính lớp một vì bé chỉ mới sáu tuổi. Cô giáo thấy bé đã biết đọc, biết viết liền cho bé học chính thức.
Bé Tú có bạn, hôm nào đi học về cũng kể cho ông bà nghe chuyện bạn bè, chuyện thầy cô… Nó đi học thì thôi, nó về là trong nhà luôn vẳng tiếng nó cười khanh khách hoặc hát véo von. Ông nội hay nói:
- Con bé này hay cười, cuộc đời nó sẽ rất tốt đẹp.
Những ngày cận Tết, bé Tú cứ lon ton xách nước ra tưới mấy cây mai mà ông nội đã suốt lá. Nó nghe ông nội nói: Khi nào mai nở thì Tết đến. Nghĩa là cha và các anh chị sẽ về. Đợi hàng chục ngày mà nụ mai vẫn cứ chi chít, bum búp, không chịu to ra, nó nói:
- Ông nội ơi, cây không có lá nên chết mất rồi.
- Không sao đâu, khi nào cận ngày, ông nội dùng vòi phun tia lên cành, búp sẽ lớn, mai sẽ nở vào đúng giao thừa. Sáng mùng một là vàng rực cả vườn nhà mình luôn.
Mãi đến 27 Tết, các anh chị mới về, còn cha thì tận chiều 29 Tết mới về. Những ngày đó, bé Tú vui lắm. Nó suốt ngày đi theo các anh chị, cũng lăng xăng phụ chùi bàn ghế, phụ chà lư đồng…
Chiều 30, ông Nhã chọn một nhánh mai to và nhiều nụ nhất, cắt đem vào chưng bàn giao thừa. Bé Tú rất thích ngồi nhìn cha cắt giấy đỏ thành chữ: chúc mừng năm mới, dán lên mấy trái dưa hấu to đùng đặt trên các bàn thờ và bàn giao thừa.
Trong khi chờ giao thừa, ông Nhã ngồi trò chuyện với cha mẹ, những đứa con ngồi chơi đánh bài ba cào. Tiếng bé Tú lanh lảnh:
- Không thèm chơi nữa, bàn nào cũng thua, hổng cho em ăn gì hết.
Tiếng Ngọc Diệp an ủi:
- Lát nữa chị đêm bài cho em ăn nha.
- Đêm cho em ba cào già!
Tiếng Hiếu Dũng:
- Trời ơi, nó còn đòi ăn cào bự nhất nữa.
Tiếng Ngân Hoa:
- Anh phải nhường nó chứ, tội nghiệp nó ở quê mà.
- Cái gì mà tội nghiệp chứ? Phải nhường em đó nha. Hổng ăn bàn này là em… khóc cho mà coi.
Tiếng cười nói ồn ào của những đứa con làm căn nhà thật ấm áp, cộng thêm những chiếc đèn măng – sông (manchon) sáng choang, treo từ nhà trên xuống tận nhà bếp, khác với những ngày thường, ngay cả ban ngày còn cảm thấy lúc nào cũng có cái vẻ âm u, vắng lặng.
Đồng hồ vừa chỉ đúng mười hai giờ đêm, Hiếu Dũng liền châm dây pháo treo ở trước cửa giữa. Mọi người đốt nhang theo ông bà nội đi cắm vào các bàn thờ. Xong xuôi thì xếp hàng chúc Tết cho ông bà nội. Ông Nhã bổ dưa trên bàn giao thừa. Ruột dưa đỏ tươi và hơi cát, mẹ ông cười khen:
- Mua dưa khéo lắm, đỏ như thế tức là một năm gặp nhiều may mắn.
Đêm trước ngày cha và các anh chị sẽ trở lên Sài Gòn, bốn anh chị em không chịu ngủ, cứ rúc rích mãi. Ông Nhã hăm he, chúng mới chịu yên. Nhưng, ông vừa nằm xuống thì chúng lại thức dậy ra ngồi ở bậc tam cấp cửa trước cười giỡn tiếp. Lần này, ông Nhã liền cầm cây chổi lông gà đi lên nhà trên, quất vào mặt bàn một cái “trót”. Ba anh chị lớn hoảng hốt, co giò chạy tứ tán ra ngoài vườn. Bé Tú ngược lại, chạy đến ôm chân cha mếu máo:
- Mai cha và các anh chị đi rồi nên các anh chị muốn chơi thêm với con mà.
- Cha biết. Nhưng phải để ông bà ngủ chứ. Ồn ào như thế thì không ngoan, có biết không con?
Ông ngồi vào chiếc ghế bành, bồng con lên. Bé Tú nép vào lòng cha dặn:
- Chủ nhật tới, cha nhớ về thăm con nha.
- Ừ.
Vừa lúc đó, ông nghe tiếng mấy đứa con ré lên um sùm ngoài vườn:
- Ma! Cha ơi! Ma!
Ông Nhã bồng luôn bé Tú chạy ra cửa, lia đèn pin hỏi:
- Ma ở đâu? Các con ở đâu?
Từ ba hướng khác nhau, Ngọc Diệp, Hiếu Dũng, Ngân Hoa hớt hải chạy vào nhà.
- Ma ở đâu?
- Dạ, không có – Ngân Hoa trả lời – lúc nãy cha la, con sợ cha nên chạy ra vườn. Nhưng, ngoài vườn bây giờ tối thui à!
- Mấy đứa kia, cũng vậy phải không?
- Dạ.
Tiếng mấy đứa con bẽn lẽn làm ông Nhã buồn cười quá. Thì ra, ban đầu chúng sợ cha hơn sợ ma. Đứng trong tối một mình thì sợ ma hơn sợ cha. Ông ký đầu con gái lớn:
- Làm chị cả mà cứ đầu têu cho các em như thế, lần này, cha tha cho đó. Không có lần sau đâu.
Chưa hết mùng ba tết, mọi người đã đi. Bé Tú không muốn nhìn cảnh cha và anh chị đi nên ra cuối vườn ngồi. Mọi người phải đi kiếm nó. Chị Ngọc Diệp ôm nó nói:
- Em đừng buồn, khi nào rảnh, anh chị lại về thăm em mà.
- Dạ.
Mấy cha con lấy bé Tú làm cục nhưn, ôm nó muốn nghẹt thở. Bé Tú buồn buồn nói:
- Cha và anh chị đi đi, con muốn ngồi đây một mình.
Sự trống vắng trong lòng bé Tú còn nhiều gấp mấy lần hồi nó mới về quê. Có lẽ vì niềm vui đoàn tụ những ngày Tết quá nhiều, nên nỗi buồn mới càng sâu trong lòng nó.
* * * * * *
Bé Tú xách cái rổ tre, đi cùng bà nội ra vườn hái rau càng cua. Nó rất thích cái món càng cua bóp sổi, vừa chua, vừa ngọt, vừa nhân nhẫn của bà nội làm. Ở nhà quê, nó hiếm khi thấy bà nội đi chợ, thứ gì cũng có sẵn.
Vườn nhà nội rộng gần 40 sào. Một mặt quay ra sông, một mặt giáp với miếng ruộng rẫy trước nhà. Gọi là ruộng rẫy để phân biệt với ruộng đồng. Ruộng rẫy có nước sông ra vô, chỉ cấy lúa vào mùa mưa, khi nước sông ngọt. Mùa nắng, ruộng rẫy chỉ là một cánh đồng sình, nước mặn, nơi mà lũ cá kèo, cồng quều, cồng voi… ra phơi nắng và ăn bùn. Ruộng đồng mùa nắng khô nứt đất, đi không khéo thì bị nhét dép xuống kẽ. Mùa mưa, nước mưa xuống ngập đồng thì người ta gieo mạ, cấy hoặc xạ.
Trong vườn thì rau, trái khắp nơi. Chỉ riêng những rau cỏ hoang đã ăn không hết. Ăn canh thì có mồng tơi, bù ngót… mọc đầy dọc hàng rào. Ăn xổi thì có càng cua. Ăn sống thì có rau đắng, rau má… Ấy là chưa nói đến mấy thứ rau, quả mà ông bà nội trồng như: dưa leo, dưa gang, cà chua, đậu bắp… Cây hàng niên thì có vú sữa, xoài, mãng cầu sim, mãng cầu ta, mít, ổi, quấc… Tha hồ mà kể cũng chưa hết cây trái trong vườn nhà nội.
Thức ăn mặn thì tôm cá dưới sông nhiều vô kể. Nhưng bé Tú chỉ thích nhất là đi vòng lũ cá kèo trên ruộng. Hôm trước, ông nội đã làm cho nó một cái cần câu, có sợi dây cước ngắn nơi đầu thành một cái thòng lọng. Nó đi dọc bờ ruộng, chỗ nào nổi đầu cá kèo to là thòng dây xuống, tròng vô đầu con cá và giật. Thòng lọng xiết chặt và thế là con cá lên đường… chui vào giỏ của bé Tú. Tiếng nó cười làm lũ cá hoảng hốt lủi xuống nước. Vậy là bé Tú biết con cá sợ âm thanh.
Khi nước ròng, nó đi bắt cồng quều. Đợi khi nước vừa lớn, mới chảy vào ruộng, nó lấy cái vợt ra, bỏ lũ cồng đã bị tách mu, nhử cá hủng hỉnh. Lũ cá hủng hỉnh nghe mùi tanh, nhào tới đông như hội, ăn ăn, xé xé. Chỉ nhử được mấy lần là lũ cồng chỉ còn trơ cái xác vôi.
Cá hủng hỉnh nấu cám là món ăn khoái khẩu của con heo mọi mà bé Tú rất cưng. Ông bà nội cứ cười nó mãi vì chuyện ngày nào cũng lôi con heo nhỏ xíu đó ra tắm rồi thay cái nơ mới ở cổ cho nó. Heo con khó chịu vì cái nơ, vừa thả tay là chạy luôn ra vườn lăn lộn bằng mỏi mà vẫn chịu, không sút được cái nơ mới đành thôi. Nhưng con heo và cái nơ thì đất bẩn như nhau. Có khi còn xấu xí hơn là cứ mặc kệ nó.
Tháng nắng, bé Tú rất thích đi nhặt ốc dừa về cho bà nội luộc với lá ổi và lá me. Khi nước lớn đầy ruộng, những cái gốc rạ mục nổi lên mặt nước, trên đó, chi chít những con ốc dừa, bé chỉ bằng cái móng tay người lớn, tha hồ mà nhặt. Thịt ốc dừa rất ngọt và thơm.
Tháng mưa, ruộng lúa xanh um, muốn ăn ốc dừa thì lội ra hàng dừa nước ở mé rạch, mé sông. Ốc dừa bám trên các bẹ dừa, cứ lựa con to mà lượm, cho vào giỏ.
Ông nội còn dạy bé Tú đi bắt tôm tít ngoài sông và cách phân biệt hang tôm tít với hang rắn, hang cá bống sao, rồi mò chem chép về nấu canh...
Nó bắt được nhiều tôm cá quá, đâm ham, hôm nào cũng đòi ông nội dẫn ra sông. Tôm cá ăn không hết, nó cứ bắt về rộng đến ốm nhom trong mấy cái khạp. Có hôm, ông nội không đi, thế là nó một mình, lén xách giỏ ra sông. Báo hại ông bà nội dáo dác đi kiếm, thấy nó rồi, ông bà nội la cho một mẻ tưng bừng, rồi lại ôm nó khóc. Bé Tú phải hứa không một mình ra sông nữa.
* * * * * *
Buổi chiều, bé Tú đi một vòng quanh vườn hái càng cua, mồng tơi và bù ngót, bó một bó to mà nó phải ôm lặc lè mới ra được ngoài sân, hứng sương. Ông bà nội ngạc nhiên hỏi:
- Hái làm chi mà nhiều dữ vậy Tú, ăn sao hết?
- Cái này để mai con đem vào trường nộp kế hoạch nhỏ.
- Sao không nộp giấy cho gọn, nộp rau thì làm sao? Không lẽ thầy trò đem ra chợ bán?
- Thì đúng là tụi con đem ra chợ bán mà!
- Con tham quá, bó to như vậy làm sao đem đi?
- Thì ông nội đem dùm con!
Ông bà nội cười: bé nhóc nhà mình tính sẵn rồi, có ông nội làm phu khuân vác!
Lũ học trò đem cây nhà, lá vườn đi nộp kế hoạch nhỏ. Đủ thứ rau củ, chất thành một đống to như cái chợ rau: mướp, dưa leo, cà chua, rau muống, cải… Thầy Cô đứng nhìn mà ngẩn ngơ, không biết làm cách nào cho đống thập cẩm đó bay ra chợ? Rồi biến thành tiền? Cũng may là có ông nội, ông kêu người đem xe đẩy tới, đẩy đi.
Mấy thầy trò ra chợ bán. Người mua – cũng là phụ huynh, ai cũng ghé vô mua một ít, đắt hàng thấy mê! Chắc kế hoạch nhỏ năm sau, bổn cũ xài lại quá!
* * * * * *
Ở nhà không có bạn, bé Tú một mình chơi trốn tìm với mình. Có hôm, nó chạy mệt quá, chui nấp đằng sau kẹt bồ lúa và ngủ quên luôn ở đó. Lại một phen ông bà đi kiếm.
Nó cũng chán trò trốn tìm một mình bèn xoay ra tập viết chữ cho đẹp. Cứ cuốn tập có một vết dơ là nó bỏ, viết lại từ đầu. Ông nội cắt những giấy trắng, đóng thành một cuốn tập cho nó làm nháp. Cuốn tập của ông nội đóng đẹp quá, thế là nó bắt ông nội cắt tập ra để đóng. Ông nội bảo:
- Tập đóng là vì tiết kiệm giấy. Tập còn nguyên mà cắt để đóng thì uổng lắm.
- Nhưng con thấy nó đẹp hơn!
Ông nội nói cách nào, nó cũng không chịu. Thế là từ đó, nó luôn có những cuốn tập khác người.
Lúc này, nó đã viết chữ rất đẹp và ngay hàng. Nó không còn thích những cuốn tập kẻ ô sẵn, mà chỉ thích giấy trắng tinh, không hàng mà cha nó phải đem từ Sài Gòn về cho ông nội đóng sổ cho nó tập vẽ. Trên nền giấy trắng, chỉ có chữ bằng mực tím nổi rõ, ngay hàng, thẳng lối, nhìn mới mê chứ.
Hồi đó, bé Tú rất thích học cách viết chữ Pháp của ông nội. Nét chữ nghiêng nghiêng, nét đậm, nét nhạt, nhìn rất thích mắt. Nó phải tập rất nhiều ngày mới có thể viết coi được.
Thầy giáo mắng vốn ông nội vì bé Tú không chịu xài tập có kẻ ô như các bạn. Ông nội hỏi:
- Nó viết chữ có lên bờ, xuống ruộng không?
Thầy giáo phải công nhận rằng: Nó viết ngay hàng.
Ông nội lại hỏi:
- Nó viết tập nó, có ảnh hưởng tới bạn bè không?
Thầy lại phải nói rằng: tất nhiên là không. Không đứa nào học lớp ba mà thích viết tập không hàng như nó. Có hàng mà còn trèo lên, té xuống ì xèo! Nhưng một đứa bé mới 8 – 9 tuổi thì không nên làm chuyện khác người. Cần phải tập cho nó tính hòa đồng với tập thể.
Ông nội hỏi:
- Thế nào là khác người? Thế nào là hòa đồng? Con nít luôn thích làm những chuyện cho là mới lạ với nó. Chẳng mấy ngày thì nó chán thôi. Càng cấm, nó càng lỳ ra, chưa kể đến chuyện nó khóc nhè thì phiền lắm lắm – ông nội nói xong thì cười khà khà.
Thầy giáo lắc đầu nghĩ:
- Ông vậy thì cháu làm sao mà khác được! Chỉ sợ không uốn nắn từ bé, mai này càng lớn càng kiêu, tưởng mình là ai, chỉ tội cho bé Tú – đó là điều thầy chỉ giữ trong lòng. Thầy cũng biết cha bé Tú đang là hiệu trưởng một trường nào đó ở Sài Gòn. Nói nhiều giống như vẽ rắn thêm chân - nhưng con bé thật dễ thương. Còn nhiều thời gian mà, mình sẽ từ từ nghiên cứu chuyện này.
Vậy là huề vốn, bé Tú cứ tập không hàng mà viết. Buồn buồn, thầy cho một hàng chữ phê bằng mực đỏ: Còn sai nhiều lỗi chính tả!
Bé Tú hỏi:
- Ông nội ơi, làm thế nào để không sai chính tả? Rõ ràng thầy đọc sao, con viết vậy mà? Làm sao để biết khi nào bỏ dấu hỏi, khi nào bỏ dấu ngã?
Ông nội ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:
- Cứ đọc nhiều sách là hết sai lỗi chính tả!
- Tại sao đọc nhiều sách thì hết sai hả ông nội?
- Con đọc đi thì biết tại sao. Con hỏi hoài, ông nội chẳng biết đường nào mà lần.
- Ông nội trồng bí rồi! – bé Tú cười.
Tủ sách của ông nội toàn sách tiếng Pháp và sách chữ Nôm. Chỉ lèo tèo mấy cuốn truyện cổ kinh điển: truyện cổ tích Việt Nam, truyện cổ Đan Mạch của Andecxen, Ngàn lẻ một đêm và cuốn Thần thoại Hy Lạp. Đọc có mấy ngày đã hết, bé Tú ngắm nghía cái thư viện trường, nhưng sách chỉ để thầy cô mượn, đâu có cho học trò lớp ba đọc.
Cô thủ thư thấy cô bé cứ lấp ló ở cửa thư viện, nhìn những dãy kệ sách một cách thèm muốn, liền hứa tháng sau, khi cô kiểm sách xong, sẽ cho nó mượn về nhà. Bé Tú mừng rơn.
Từ ngày được mượn sách, bé Tú đọc với tốc độ chóng mặt. Cảm giác của nó khi cầm một cuốn sách chưa đọc như là cầm trong tay một bí mật, phải nhanh nhanh biết mới được.
Nó cũng không để ý rằng những ngày sau đó, không còn thấy hàng chữ phê bằng mực đỏ của thầy về tội sai lỗi chính tả. Thế giới của bé Tú giờ là những cuốn sách. Việc bị sách bỏ bùa mê thoạt đầu không ảnh hưởng gì đến nó nhiều vì nó có một trí nhớ rất tốt. Bài giảng, bài học thuộc lòng… nó chỉ đọc qua một lần là có thể viết ra giấy để tự kiểm tra xem mình đã thuộc chưa, lại vừa là cách luyện chữ viết. Phải nhanh, gọn để còn đi đọc sách mà. Chuyện chỉ ảnh hưởng khi nó vào cấp II, khi mà việc học không chỉ có trí nhớ tốt là đủ.
* * * * * *.
Năm bé Tú học lớp sáu, nó không còn được học ở cái trường cấp I cổ kính, mái ngói rêu phong và khoảng sân rộng trồng mấy cây điệp già.
Trường cấp II nằm cạnh sân banh. Năm nay, trường mới xây thêm một dãy có 4 phòng học vách lá, mái tôn.
Lớp học của bé Tú lại ở nơi mới dựng. Đầu năm học, vách lá nguyên nếp, đưa cái sống lá dừa nước ra ngoài, có màu nâu đỏ rất đẹp.
Khổ nỗi đám nhóc ngứa tay, đi qua, xé một cái, đi lại xé một cái. Ngồi trong lớp học, mấy đứa nào ngồi gần vách lá, buồn tay, xé một miếng. Ra chơi còn tệ hơn, chúng xé vách thông hai phòng để có lỗ bắn dây thun vào “kẻ địch” phía lớp bên kia!
Đến giữa năm thì vách lá xơ xác một cách thảm hại. Từ trong lớp, có thể nhìn thông thống ra ngoài sân. Thầy hiệu trưởng bắt học sinh trong bốn lớp nhà lá ra xếp hàng giảng cho một bài "đạo đức kinh" về giữ gìn của công. Sau đó, mỗi đứa phải góp giấy bìa tập và hồ sao cho đủ để dán kín vách lá bị xé. Mỗi đứa phải viết lên đó một hàng chữ: Không được phá hoại của công.
Được lời thầy hiệu trưởng, bọn nhóc nhân đó mực đỏ, mực đen viết loạn cả lên, cấm đủ thứ, rồi còn cả ký tên, vẽ mộc, vẽ đầu lâu bắt tréo sọ người... trông chẳng khác gì tấm bùa trấn quỷ! Thầy cô than trời, lắc đầu chịu thua. La mãi chỉ thêm khan tiếng. Cổ họng thầy cô nào cũng bị viêm mãn tính, giọng khàn khàn cả, chẳng còn mấy hơi thừa để "trấn tà" cho bọn học trò quỷ quái này nữa.
Ông nội vẫn ngày ngày đưa bé Tú đi học.
Hồi trước, trường cấp I gần nhà, chỉ đi khoảng 15 phút là tới. Ngôi trường nằm quay ra đường cạnh bờ sông, nước sâu và chảy xiết. Bé Tú nhỏ, ông nội không muốn nó đi một mình nên đưa đón.
Bây giờ lên cấp II. Nhà xa trường hơn. Trường cấp II xây kế đường lộ, khoảng cách khá công bằng cho mọi học sinh trong làng đến học.
Cha nó đã đem về một chiếc xe đạp cho con gái đi học. Ông nội không cho đạp đi, vẫn ngày ngày dắt bộ bé Tú đến trường. Ông Nhã biết được, vừa sợ cha già mệt, vừa xót con gái nên nói:
- Cha à, cho nó đi xe đạp đi. Cha già rồi, ngày nào cũng bốn bận đi về mấy cây số giữa nắng mệt lắm.
Ông nội nói:
- Chỉ có hơn một cây số. Ông cháu đi bộ như tập thể dục cho giãn gân cốt, có gì mà mệt.
Quay qua bé Tú, ông nội kiếm đồng minh:
- Đúng vậy phải không Tú?
- Hổng đúng gì hết à! Ông nội bắt đi bộ xa quá, đường đất đá đỏ, sạn cứ nhét vào giày con, ngay chỗ ngón út đó, đau lắm.
- Đau chỗ nào, sao không nói cho ông nội nghe?
Ông nội vừa nói, vừa cúi xuống xem bàn chân bé Tú. Ngay góc ngón út của bàn chân bé Tú có một cục vừa phồng, vừa chai màu tai tái, hồng hồng. Hằn là bị thường xuyên đến nỗi chai đi và bé Tú vẫn chịu đau, không chịu nói, bây giờ mới nói ra. Ông nội thương quá la:
- Con bé này lỳ thiệt! Đau như vậy mà cứ làm thinh, làm sao ông nội biết? Lúc đau, sao không bảo ông nội cõng đi?
- Chỉ có em bé mới cõng chứ. Con bây giờ lớn rồi, ông nội cõng, bạn con nó cười chết. Hồi đầu năm trời mưa, ông nội có cõng con một lần. Tụi nó chọc quê con đến giờ mới quên.
- Thôi để ông nội tập cho con đi xe đạp rành, đạp xe đi học vậy.
- Dạ.
Bé Tú thích ý cười tươi rói. Cái chính là từ nay nó có thể đi học một mình.
Ông bà nội hay kể về làng quê ở đây cho nó nghe. Có nhiều câu chuyện rất ấn tượng và nó muốn tận mắt nhìn thấy. Bị ông nội kè kè một bên, không đi đâu được. Về nhà thì lúc nào cũng chỉ loanh quanh tự chơi với mình. Ông bà nội không cho trẻ con hàng xóm vào, ngay cả người lớn cũng chỉ đến vào những dịp giỗ chạp, lễ tết hoặc ngày mùa.
Bây giờ thì có thể tranh thủ tham quan làng quê. Bé Tú mừng rỡ đến nỗi, lần đầu tiên leo lên xe đạp đã chạy một lèo ra tới đầu lộ, không thèm chờ ông nội vịn yên cho.
Ông nội vừa ra ngõ đã thấy bé Tú tít xa xa ở cuối con đường, hai chân guồng bàn đạp khí thế. Ông nội giơ hai tay lên trời:
- Thôi rồi, chưa kịp dạy nó bóp thắng!
Bé Tú chạy xe đạp trên con đường từ ngõ ra lộ. Ban đầu vì vui thích và nghĩ chuyện đi xe đạp có gì khó đâu, cần gì phải chờ ông nội dạy. Đường vào nhà nó rất rộng, chỉ thua con lộ đỏ. Hai bên đường là hai hàng dừa xiêm có rất nhiều trái. Ngày xưa, bác nó còn đậu trực thăng trên đường này khi về thăm ông nội. Mỗi lần cha chở nó về quê, nó thường đứng đằng trước chiếc vespa, phụ bẻ lái với cha đó thôi.
Ra tới lộ, có nhiều người đi trên đường, bé Tú muốn ngừng nhưng không biết làm sao để chiếc xe ngừng. Nó chỉ biết lái xe né qua, né lại, bụng bắt đầu sợ run vì cũng không biết làm sao quay về nhà với ông nội hoặc leo xuống khỏi cái xe đang phóng như điên. Hai cái chân nó vẫn guồng bàn đạp. Lòng nó sợ hãi, nước mắt bắt đầu tràn nhòa mắt mà nó không biết làm sao để chùi. Tay lái vẫn lái chiếc xe đạp càng chạy, càng xa.
Vừa lúc đó, có một thằng nhóc đạp xe chạy lên song song với bé Tú, nó nhìn qua hỏi:
- Ê, mày bị điên hả?
- Mày điên thì có!
- Sao mày vừa khóc, vừa chạy như ma đuổi, xém chút té chết tao rồi, mày có biết không?
Bé Tú không dám đảo mắt đi đâu, cũng không nhìn được mặt thằng nhóc. Nó chỉ bực bội trả lời:
- Mày sống nhăn đó, chết hồi nào?
- Để tao cho mày biết mùi bị cúp đầu là sao.
Thằng nhóc vừa nói xong liền chạy vượt lên, cúp ngay đầu xe bé Tú. Nó không biết thắng, làm sao ngừng lại! Vậy là nó lủi luôn xuống ruộng lúa xanh um, té chỏng gọng, đè mẹp vô số lúa.
Thằng nhóc ngừng xe, trố mắt nhìn nó:
- Ủa! Sao mày té vậy?
Bé Tú vừa giận, vừa mừng. Cuối cùng nó đã thoát được cái xe điên. Đến lúc này, nó mới nhìn rõ mặt thằng nhóc. Ở đâu ra mà có thằng Miên đen dữ, tóc nó cứ xoăn tít như dán vào da đầu.
Thằng bé thấy bé Tú đứng dưới ruộng, quần áo ướt nhem, dính đầy bùn sình, chỉ liếc nhìn nó rồi lại ngó chiếc xe đạp. Nó cười cười dựng xe, xuống vác luôn cái xe bé Tú lên vai và lội lên bờ.
Bé Tú lên theo, đứng nhìn thằng nhóc kiểm tra lại xem chiếc xe của nó còn chạy được không. Kiểm tra xong rồi, nó nói:
- Xe mày tốt thiệt! Té cái rầm mà hổng “xi nhê” gì, chỉ hơi niễng tay lái. Cái này tao làm chút là xong.
Nó kẹp hai chân vào bánh trước, hai tay nắm hai tay lái vặn một cái. Nó nhìn nhìn, ngó ngó như rành nghề lắm, lại vặn qua bên kia một chút. Rồi lại nhìn ngó, vặn bên này một chút. Vặn ba bốn lần qua lại gì đó, nó có vẻ vừa ý, bước ra.
- Được rồi, mày đi đi.
Bé Tú chẳng nói một lời, nó lẳng lặng dắt bộ xe đi ngược trở lại. Bây giờ nó mới nghe đau nhức ở đùi, hông và sau cổ như bị trặc, làm cái đầu nó rất khó cử động. Sự đau đớn trong mỗi bước đi làm nó không kềm được, lại chảy nước mắt.
Thằng nhóc kêu lên:
- Sao mày không đạp xe về? Sao mày khóc?
Không thấy bé Tú trả lời, lại thấy bé Tú đi cà nhắc, nó chạy tới:
- Mày bị đau, hổng chạy xe được hả? Để tao chở mày về.
Nó đem xe mình để xuống mé ruộng, lại giằng cái xe ra khỏi tay bé Tú, leo lên:
- Mày lên đi.
Dọc đường, nó nói luôn miệng, cuối cùng cũng moi được lý do vì sao bé Tú chạy như điên trên đường. Nó cười nắc nẻ:
- Trời ơi! Có cái thắng cũng hổng biết xài, vậy mà biết chạy xe mới ghê! May là tao cho mày xuống ruộng, té trên đường đá dăm thì mày tiêu rồi.
Về đến nhà, ông bà nội nghe thằng nhóc kể, cám ơn rối rít (tất nhiên nó giấu biến cái vụ nó làm bé Tú té, chỉ kể thấy bé Tú không chạy về được nên chở về dùm).
Nó là con trai người giữ đình. Hôm đó, nó có nói tên nhưng bé Tú không chịu gọi, cứ gọi nó là ĐEN. Thằng nhóc hồi đầu ghét lắm, nhưng bé Tú gọi nó bằng cái giọng êm ái quá, nó rất thích nghe, đành thôi. Ừ thì Đen, mình cũng đâu có trắng, đen thật mà!
Thằng Đen không đi học. Nó ghét học chữ. Cha nó sợ nó ở không lêu lổng, bắt đi học nghề khắc bia mộ. Chỉ có nghề đó là học nghề còn được trả tiền công. Cha nó cũng sợ nó ghét chữ, bắt học nghề đục chữ chắc chẳng nên cơm cháo gì. Chừng nào nó bỏ việc hẳn tính tiếp. Không ngờ nó thích nghề đó, làm rất khéo tay, lại sáng tạo nhiều mẫu hoa văn lạ mắt.
Bé Tú đã từng nghe ông bà kể rất nhiều chuyện về cái đình làng, nơi nhà thằng Đen ở. Nó nhìn thằng Đen nói:
- Hôm nào Tú đến nhà mày chơi nha.
- Ừ! Muốn đến lúc nào cũng được. Đình làng mà.
******
Chương 2

NƯỚC MẮT RỒNG ĐÁ


Thứ Năm, 10 tháng 9, 2009

ĐÌNH VIỆN THÂM THÂM


Chương 1 GẶP GỠ



Lần đầu tiên tôi gặp Tép con là ở bên cái giếng cũ ở góc cùng trong vườn nhà. Đó là một chiều ảm đạm của tôi, ngày mà thế giới của tôi đã tan tành và tôi thấy mình chẳng còn muốn sống. Nhưng trớ trêu ở chỗ, tôi là một người rất sợ ma. Không muốn sống mà sợ chết, thật là mâu thuẫn. Cứ nghĩ đến chuyện tôi phải tham gia vào cái thế giới ma quỷ ấy thì tôi đã sợ chết khiếp rồi. Ai mà biết được khi ta chết rồi, ta có biết hay không. Chuyện người ta nói: Chết là hết! Thực tế, người có thể nói đều là người sống, đâu có ai nói vọng từ đáy mồ.
Cái giếng cũ ấy nằm khuất sau mấy tầng dây leo. Đó là nơi ngày bé tôi thường len lách vào trốn những khi buồn phiền, bị la mắng hay chỉ đơn giản là một chỗ để tôi một mình mơ mộng. Giếng sâu thăm thẳm, tối om om, tạo cho tôi cảm giác nó chứa rất nhiều bí mật. Xung quanh, cây cỏ, dây leo cao và khá dày, tưởng chừng thế giới là của riêng tôi, riêng cả những bí mật mà tôi thêu dệt khi nhìn vào những lớp rêu dày chạy từ miệng giếng xuống khoảng tối hun hút đó.
Từ dạo tôi xa nhà vào đại học, cuộc sống rất nhiều niềm vui. Ngay cả những ngày về thăm nhà, tôi cũng đi cùng bạn trai - người mà với tôi đã từng là tất cả thế giới.
Khi tôi trầy trật để chui vào chỗ cái giếng, ngồi trên miệng giếng, kỷ niệm tuổi thơ ùa về khiến tôi tự dưng muốn khóc thật to. Những giọt nước mắt mặn chát rơi trên tay tôi, rơi xuống bắp chân tôi, chạm vào những vết xước, rát càng thêm rát. Nước mắt ở đâu mà nhiều không tưởng, cứ chảy ròng ròng vào những vết xước của tôi. Cái đau như thức tỉnh tôi và tôi thấy mình rất bình tĩnh nghĩ về mọi thứ. Trong lòng vẫn biết: giữ người muốn ở, không ai giữ người muốn đi. Tôi đã từng nghĩ sẽ trả bất cứ giá nào để giữ người ở lại. Chỉ nghĩ thôi, vì tôi cũng biết, nếu tôi mua được thì tôi không khốn khổ thế này và điều quan trọng là tôi sẽ căm ghét nếu phải trả giá để mua tình yêu đã mất. Còn có thể yêu sao, khi tôi sẽ luôn nhớ rằng tôi phải mua nó.
Những dòng suy nghĩ rất mạch lạc trong tôi lúc ấy, làm tôi nhận ra mình không yếu mềm như mình tưởng, thậm chí còn ngược lại là khác. Sự hiểu biết chính mình thật đau đớn, như là phải qua lửa đỏ mới biết mình có bị hóa tro than hay sẽ thành đá quý. Thành gì cũng mặc, thà cứ ngu ngơ không biết còn hơn phải hiểu biết nhiều như vậy, nếu tôi không phải là tôi, chết chìm, chết cháy... túm lại là chết quách cho xong thì...?!
Tôi đang miên man nghĩ, nước mắt vẫn chảy không ngừng và những ý nghĩ về cuối khiến tôi bắt đầu vừa khóc, vừa cười. Một tiếng nói trẻ con trong veo vang lên bên cạnh làm tôi giật mình, nổi hết cả da gà:
- Nè chị, thôi khóc được không? Người chị làm bằng nước hay sao mà nước mắt chảy hoài không hết vậy?
Tôi ngớ ra nhìn thằng nhóc da trắng bóc, môi đỏ như son, xinh như thiên thần, chỉ trạc bảy-tám tuổi, đang đứng sững ngay bên cạnh từ lúc nào chẳng rõ:
- Em vào đây bằng cách nào? Mà em là ai? Đây là nhà riêng mà?
- Chị vào bằng cách nào thì em vào bằng cách đó. Còn nữa, chị vờ hay thật không biết mảnh vườn này đã đổi chủ rồi?
Cái dáng nó đứng chắp tay sau đít, vẻ mặt nghiêm trang, nói năng lạnh lùng, sắc sảo như người lớn thật là ngộ. Trông nó đáng yêu đến nỗi tôi lập tức quên khuấy mình ngồi đây làm gì. Nước mắt đã ngừng chảy từ lúc nào không rõ. Vẻ tươi tắn, sáng rực đầy hấp lực từ con người nó làm tôi có cảm giác như nước trong xanh thẳm, khi chạm vào, những đau đớn của mình sẽ không còn nữa. Điều tôi muốn làm nhất là dang tay ôm nó vào lòng. Nhưng ngay khi tôi mở tay định ôm nó, nó nhảy cái vèo thật nhanh về phía sau, hai tay vẫn chắp sau đít, miệng càu nhàu:
- Đồ con gái! Động một chút là muốn ôm người ta?!
Tôi ngồi với hai cánh tay ngớ ngẩn treo giữa không khí. Bất chợt, tôi thả tay xuống, trề môi:
- Tưởng mình có giá lắm sao? Không cho ôm thì thôi - rồi tôi sẵng giọng - con nít, chui vào cái hốc bù tó này làm gì, không sợ té cái đùng xuống giếng sao?
- Còn chị, chui vào đây làm gì, định tự tử chắc?
- Ngớ ngẩn. Người như ta đây, đâu có ngu mà chết lãng nhách như vậy.
Nó ngờ vực nhìn vào mặt tôi lúc ấy đang cố ý hất vênh lên, ra cái vẻ bất cần, rồi nó đưa ra một cái khăn mù xoa vải sọc:
- Chị lau mặt đi, sưng húp hết rồi. Vậy sao chị khóc tức tưởi như vậy, còn ngồi lắt lẻo ở thành giếng, tưởng chị muốn nhảy xuống chứ. Chị có biết là em buộc áo chị rồi không?
- Buộc áo?
Tôi hỏi lại và nhìn theo ngón tay của nó.
Trời ơi! Thằng nhóc này thật là…! Cái áo đầm nhiều ren yêu quý, tôi chỉ mới mặc sáng nay, nhân ngày nhận bằng tốt nghiệp đại học, nó ngang nhiên túm lại, buộc vào dây leo có vô số gút ngắn dài, nhọn hoắt thế kia, ren rua gì cũng tiêu rồi!
Nãy giờ đang bực vì bị thằng nhóc chơi quê, tôi đứng dậy, thẳng tay nắm váy áo kéo thật mạnh. Tiếng vải rách loạt xoạt và tiếng dây leo đứt bựt bựt như củi mục, phần nào làm vơi bớt sự bức bối trong tôi. Ngay vào cái lúc tôi định quay sang nó để nói cho nó biết, rằng nó đã làm chuyện rất thừa, ngoài chuyện làm hư cái áo tôi ra, nếu thật sự tôi nhảy xuống, những gì nó buộc… Tôi đã không nói lời nào ra miệng, khi nhìn thấy ánh mắt thảng thốt của nó đang treo đứng ở đâu đó phía sau tôi. Tôi quay lại, chẳng thấy gì. Tự nhiên tôi thấy sờ sợ, vội hạ thấp giọng thì thầm:
- Sao vậy? Em thấy gì à?
- Không có. Chắc em hoa mắt. Em thường thấy nhiều thứ lạ, ông nội nói em bị hoa mắt. Lúc chiều vào đây, thấy chị ngồi khóc không ngừng, em cũng sợ mình lại hoa mắt. Chỉ đến khi cầm áo chị lên buộc vào dây leo, em mới tin chị có thật.
Tôi nhìn khuôn mặt xinh xắn của nó một lát, rồi thở dài thầm nghĩ: Mình thật là…! Những gì nó làm đều là muốn giúp đỡ mình, không biết cám ơn nó thì thôi, còn tính dằn mặt nó. Đứa bé tốt bụng như vậy, mình là người lớn, lại nhỏ nhen quá chừng!
Tôi nhìn nó gượng cười:
- Xin lỗi em. Em tên gì?
- Mọi người gọi em là Tép con.
- Tên thật của em đó, không phải biệt danh thường gọi.
- Chỉ là Tép con.
- Không muốn nói thì thôi. Chị tên là…
Nó cắt ngang:
- Chị Lý chứ gì, em biết lâu rồi.
Tôi ngơ ngác:
- Làm sao em biết? Ai nói cho em biết?
- Trong kia nói cho em biết.
Vừa nói, nó vừa chỉ tay vào chỗ mấy cái hồ nước cũ nằm ngang, nơi tôi đã sửa sang, kê chắn thành một chỗ trú suốt thời trẻ con của mình. Trong đó còn rất nhiều vật dụng mà tôi đã tha vào. Hơi giật mình, tôi lo lắng chạy tọt vào xem nó có phát hiện ra chỗ giấu những cuốn nhật ký của mình không. Chúng đã biến mất. Tôi quay ra đứng chống nạnh:
- Mấy cuốn tập của chị đâu?
- Nó… bị ngấm nước mưa hư hết rồi.
- Em có đọc nó không?
- Dạ không có...
- Vậy làm sao em biết tên chị?
- Chị ghi đầy trên vách đó thôi. Chắc chị hay quên, sợ quên cả tên mình nên chẳng chừa chỗ nào mà không ghi tên, ký tên hết, làm em muốn ghi tiếp cũng không có chỗ.
Tôi yên tâm, phì cười, ngoắc nó vào theo:
- Đây nè, thiếu gì chỗ trống, ghi đi.
Tôi đưa cho nó cục phấn, vừa nói, vừa xóa những phấn cũ đi. Nó trông rất hào hứng, viết ngay vào đó hai chữ “Tép con” to tướng. Tôi khen:
- Chữ đẹp nha. Em đi học chưa?
- Em có học, nhưng không đến trường. Thầy cô đến nhà dạy cho em.
- Sao vậy? Học một mình không có bạn buồn lắm.
- Ông nội nói, những gì em cần, ông nội sẽ mang hết về nhà cho em.
- Vậy ông nội có mang bạn về cho em không?
- Cái đó thì không.
- Ồ! Vậy thì buồn chết!
Trời đã sâm sẩm tối. Từ xa xa vang lên những tiếng gọi tên Tép con thất thanh. Tôi bảo nó:
- Người nhà em kiếm em kìa. Mình về thôi. Tạm biệt em.
- Dạ. Chị ơi...
- Ừ, gì hả em?
- Mai chị có ra đây nữa không?
- Nếu em muốn...
- Dạ có. Em chờ chị nha.
- Ừ!
Nó đi trước, tôi theo sau. Bây giờ, tôi mới nhận ra là chúng tôi đi theo một lối mòn, ít rậm như lối từ phía tôi đi. Điều này chứng tỏ Tép con thường xuyên đến đây. Tôi rất thắc mắc, Tép con như thiên sứ, hẳn là ai cũng yêu mến, sao phải kiếm một cái góc cô đơn thế này, và cậu bé có vẻ già trước tuổi.
Phía ngoài, chỗ Tép con dừng chân là một vườn cây rộng mênh mông. Tôi nhớ không lầm thì trước đây chỗ này là đất hoang. Nghe nói có một đại gia đã mua nó, rồi bỏ đó hàng chục năm trời. Tôi chỉ đi học có mấy năm thôi mà mảnh đất đó đã thành thế này, cứ như là người ta đã sống và trồng trọt nhiều năm rồi vậy.
Nó quay lại bảo tôi:
- Chị đi dọc theo bờ tre sẽ gặp con sông. Cặp bờ sông có con đường mới mở…
- Chị biết đường về nhà. Thổ địa ở đây mà.
Tôi dừng chân vẫy tay với nó. Nó ngoảnh mặt về phía những tiếng gọi một lát, rồi bỗng nhiên chạy nhanh lại ôm lấy chân tôi. Tôi sửng sốt nhìn xuống mái đầu dễ thương của nó. Còn nhớ hồi nãy, nó đầy vẻ kiêu căng nhảy tránh tôi, còn phang cho tôi mấy từ: đồ này, đồ nọ...
Tôi ngồi xuống, mở tay ra ôm nó. Nó áp mặt vào má tôi. Má nó thơm thơm, rất trẻ con, rất mỏng manh khiến trái tim tôi chìm xuống. Tôi dịu dàng hỏi:
- Sao vậy em? Không muốn về nhà à?
- Dạ.
Nó nói xong, nước mắt đã trào ra. Tôi đưa tay vuốt nhẹ mặt nó, vuốt những giọt nước mắt cho nó. Bỗng nhiên, nó buông tôi ra, tự mình đưa hai tay lau nước mắt, vẻ mặt lại trở nên nghiêm lạnh và nói:
- Không được khóc. Con trai nước mắt quý như vàng, ông nội nói vậy.
Nó bỏ chạy rất nhanh về phía những tiếng gọi, không ngoảnh lại lần nào.
Tôi cứ đứng đó nhìn theo đến khi nó khuất mất sau những bóng cây. Nỗi buồn lại tràn về như thác. Tôi bước dọc theo con đường nhựa mới rất đẹp chạy dọc bờ sông, nước mắt lại tràn ra.
******
Mấy buổi chiều kế tiếp, tôi đều ra đợi với cái laptop trên tay, nhưng Tép con không đến. Tôi lại sắp phải đi. Hôm nay là buổi cuối cùng tôi còn đợi Tép con. Ngồi bó gối trong cái hồ nước vuông vuông, tôi lại nghĩ về giây phút tôi gặp Tép con và lại nghĩ về những giọt nước mắt của mình.
Cuộc chia tay tuy đau đớn, nhưng sau khi nghĩ kỹ, tôi lại thấy mừng. Biết sớm, còn hơn sau này mới biết. Lúc đó, nào họ hàng, con cái... dây mơ rễ má, anh vẫn ngựa quen đường cũ, rồi lại quay về thề thốt, tôi biết mình chắc chắn thà khốn khổ sẽ ngậm đắng, nuốt cay để sống mòn và khi đó, e rằng tôi sẽ không bao giờ còn cười được nữa, mà tôi lại rất thích cười.
Dứt khoát rồi, tôi cũng nên làm cho xong mấy phác thảo đã nhận và đi kiếm việc khác. Ra vào gặp mặt, tôi chỉ sợ mình không thể làm chủ được mình, lại mặc kệ ngày mai mà tiếp tục yêu anh mất! Cảm giác có người đang nhìn mình, tôi mở to mắt, ngẩng đầu. Người đàn ông trung niên đứng chặn ngang phía trước đã kịp quay đầu nhìn khắp xung quanh. Tôi chỉ thấy phần thân nghiêng của ông ta với mái tóc đinh muối tiêu.
Tôi nghĩ chắc là ông nội của Tép con nên ra ngoài và khẽ ho:
- Chào ông, ông kiếm Tép con?
Ông ta quay mặt lại thì tôi biết mình lầm. Ông ta quá trẻ để làm ông nội. Nhiều lắm chỉ có thể làm cha Tép con. Chỉ tại mái tóc muối tiêu của ông ta làm tôi tưởng ông ta đã già. Đó là một khuôn mặt rất ấn tượng vì cực kỳ dễ phác nét cơ bản. Một hai nét cũng đủ nhận ra người. Nhìn chung là gai góc, xương xẩu, nhưng gặp rồi khó quên. Không như anh, mặt mũi thanh tú nhưng phải phác ít nhất là mười nét trở lên thì mới không lẫn với những khuôn mặt khác. Vừa nghĩ bâng quơ, tôi có ý chờ nghe anh ta trả lời. Vậy mà anh ta làm lơ như không nghe thấy và quay lưng bỏ đi.
Tôi bực bội nhìn theo bóng anh ta, rồi mới nghĩ ra rằng anh ta đi theo con đường mòn của Tép con. Thế là tôi lẽo đẽo đi phía sau, cho đến lúc ra đến đường quẹo về nhà mình. Tôi đứng đó nhìn theo cái dáng cao lớn đi những bước dài mà thong thả vô cùng, rất khác với vẻ mặt gai góc khó ưa của anh ta rồi nghĩ:
- Cái góc bí mật của mình bây giờ xem ra chẳng còn chút riêng tư gì hết. Sáng mai, trước khi đi, phải ra đó dọn dẹp thôi.
Buổi tối, sau khi hoàn thành nốt những phác mẫu, tôi tắt máy, tắt đèn, định đi ngủ sớm. Cha gõ cửa hỏi vọng vào:
- Ngủ sớm vậy con? Nói chuyện với cha một chút được không?
- Dạ.
Tôi ngồi dậy mở đèn, mở cửa.
Cha ngồi xuống giường nhìn tôi cười:
- Con sao rồi?
- Con chẳng sao.
- Sắp tới con định làm gì?
- Dạ, con chưa có kế hoạch cụ thể. Có lẽ, trước mắt con sẽ đi kiếm lẻ từng hợp đồng hoặc xin việc ở đâu đó.
- Ừ, cố gắng lên. Tiếc là cha không giúp gì được cho con, chỉ nói suông thôi.
- Có cha ủng hộ là con vui rồi. Cha đừng lo cho con.
Cha nhìn tôi một lúc, ngập ngừng một chút, rồi không nói thêm gì nữa, đứng lên chúc tôi ngủ ngon.
Tôi có thể đoán cha muốn nói gì. May là cha không nói, vì tôi thật lòng không muốn nói gì hết về cái áo đầm bị rách, về chuyện lần đầu tiên sau mấy năm, tôi về nhà một mình, chuyện tôi sao lại phải lập kế hoạch riêng…
Tôi đóng cửa, tắt đèn, lên giường ôm con gấu nhồi bông to mà cha đã tặng vào ngày tôi được tuyển thẳng vào lớp mười. Hồi ấy, con gấu bông mềm như nhung này là thứ xa xỉ duy nhất mà cha mua cho tôi. Nó trị giá bằng bảy giạ lúa thơm. Cha chưa bao giờ xài hoang như vậy. Những gì cha mua đều được tính đến từ nhiều ngày, thậm chí là nhiều tháng, cho đến khi thấy thật sự cần thiết, cha mới thật sự mua. Nghĩ đến cha, tôi thở dài:
- Xin lỗi cha! Sau này con sẽ nói, khi con bình thản. Những gì con nói ra lúc này, có thể là rất phiến diện, thiếu công tâm, gay gắt hay tệ hơn là nói xấu người khác. Thấy con tệ như vậy, cha sẽ không vui đâu.
Tôi nghe tiếng mở cửa trước, tiếng cha nói chuyện với ai đó và cuối cùng là tiếng gõ cửa phòng tôi:
- Con có khách.
- Ai vậy cha?
- Nghe nói là hàng xóm với chúng ta. Nhưng cha không biết họ.
Tôi nghĩ ngay đến Tép con và nhảy xuống đất, chân trần chạy ra.
Ngồi ở bàn nước đối diện với cha là một ông già rất đẹp lão. Không khó để khẳng định đó là ông nội Tép con.
- Chào ông!
Tôi gật đầu và ngồi xuống cạnh cha. Ông già nhìn tôi một cách kỳ lạ, như là đang xẻ tôi ra ấy. Không phải cái cách ghét bỏ hay dò xét gì đâu, mắt ông rất hiền, chỉ là không biết sao tôi cứ có cái ý nghĩ đó. Ông nội Tép con bỗng nhiên chỉ nói rất đơn giản:
- Tép con bệnh, nó muốn gặp con.
- Dạ, tối thế này... đi bây giờ sao ạ?
- Phải. Con yên tâm, hai cha con cùng đi với tôi, sau đó sẽ có người đưa cả hai về. Làm phiền con một chuyến.
- Dạ, không có gì đâu, chỉ cần cha con đồng ý…
- Ta đi thôi.
Cha vừa nói, vừa đứng dậy. Mắt cha thoáng liếc nhìn lên cái đồng hồ treo tường. Tôi nhanh chóng thay cái quần lửng màu đen, cái áo pull ngắn tay màu trắng, xỏ đôi giày thể thao rồi chạy theo sau cha.
******
Ông già vào trong một chiếc xe hơi đang mở máy rì rì. Tôi vừa vào cùng, vừa nghĩ:
- Có xa xôi mấy đâu mà cũng đi xe!
Thật ra cũng không gần như tôi nghĩ, vì xe chạy theo con đường nhựa mới. Nhà Tép con kín cổng, cao tường, theo đúng nghĩa đen của từ này. Trong bóng đêm, chỉ thấy tường rất cao. Cánh cổng tự động chạy qua khi ông nội Tép con nhấn kèn.
Từ ngoài xa, tôi đã nhìn thấy Tép con ngồi trong lòng một người đàn bà đang ngồi trong một cái ghế bành to. Cả người nó quấn kín trong tấm mền màu xanh, chỉ ló cái mặt. Tôi đến gần, Tép con nhìn tôi nhoẻn cười. Dưới ánh đèn, trông nó trắng xanh như làm bằng sứ.
Ông nội Tép con bước lại gần nói:
- Cho cháu xuống đất đi, đừng quấn mền kín mít thế.
Ông nói xong thì quay người ra ngoài hiên. Cha đã ngồi xuống, trò chuyện với ông nội Tép con ở cái bàn bằng đá trước hiên nhà.
Người đang ôm nó trong lòng nhẹ nhàng thả nó xuống đất và tháo cái mền ra. Trong khi bà làm, Tép con cứ dậm chân, vẻ rất sốt ruột. Tép con nắm tay tôi dẫn vào trong một căn phòng rộng rãi, có rất nhiều vật dụng trẻ con mà tôi đoán là phòng nó. Ở đó, đã có hai người phụ nữ trẻ đang ngồi trong hai cái ghế bành to, một đang đọc sách, một đang đan lát. Thấy chúng tôi vào, họ đứng dậy đi ra ngoài. Tôi buông tay Tép con, mỉm cười gật đầu chào họ. Tép con chạy đến bên một chiếc tủ đứng, lục soạn gì đó.
- Chị ơi, lại đây.
Tôi lại gần. Tép con đang mở một tập giấy có rất nhiều hình vẽ nguệch ngoạc, chỉ cho tôi và hỏi:
- Chị thấy em vẽ thế nào?
- Cái này mà gọi là vẽ hả? Con này là con gì kia?
- Con mèo.
- À phải, nhờ có sáu cọng râu. Còn con này…
- Con gà.
- Ừ, khiếp! Con gà gì vậy?
- Chị còn hỏi... Đó là con gà trống mà, nó đang gáy Ò ó o.
- Hi hi, mấy cái chữ O đó làm chị thắc mắc, cứ nghĩ là... trứng đi lạc.
Tép con nhìn mặt tôi một lát, rồi chỉ tay vào trán tôi:
- Chị nha, chọc em.
- Biết rồi sao? Mặt mũi gì mà lúc nào cũng nghiêm chỉnh như ông cụ non. Chọc thêm chút cho em khóc luôn.
Tép con nhìn mặt tôi bắt chước vẻ hình sự của nó, bật cười khanh khách. Tôi phát hiện nó sún một cái răng cửa. Bỗng nhiên tôi nghĩ: có thể chàng nhóc sún răng nên ngại cười cũng nên.
- Hai chị em có chuyện gì vui mà cười nhiều vậy?
Tiếng ông nội Tép con làm cả hai giật mình ngừng bặt. Cha đang đứng cạnh ông. Hai người nhìn vào hai chúng tôi. Ông nội Tép con nói:
- Cha con nói con hiện giờ khá rảnh. Không biết con có thể ở lại làm gia sư dạy vẽ cho Tép con một thời gian?
Tôi quay nhìn cha, cha gật đầu. Tôi quay nhìn Tép con. Nó mở to đôi mắt nhìn vào tôi với vẻ mong chờ.
- Mấy hôm nay Tép con cứ nhắc con mãi.
- Con còn một số việc chưa làm xong.
- Vậy là con nhận lời?
- Dạ. Cám ơn ông đã tin tưởng con.
- Chỉ mong con không thấy bất tiện khi đến đây, vì nhà chúng tôi có một số quy định. Khi nào con chính thức làm việc, con sẽ biết.
Tép con vui mừng:
- Ông ơi, cho chị ở chung phòng với con được không?
Tôi ngắt lời:
- Chị ở nhà, chỉ đến đây dạy em rồi về.
- Chị ở đây với em luôn, không được sao?
- Không được.
- Tại sao?
- Chị thích ở nhà mình.
******
Tép con xịu mặt:
- Sao chị cứ bắt em vẽ mấy cái hình này vậy? Đường tròn thì cứ lấy compa vạch, đường thẳng thì lấy thước, sao cứ phải vẽ tay hả chị?
- Muốn biết phải không?
Tôi chỉ cái quạt bàn:
- Có phải nó gồm những hình tròn, hình vuông, đường thẳng… không nào? Xem nha.
Tôi vạch ngay một đường tròn, hai đường thẳng đứng và hai đường chân nằm ngang phía dưới... Tép con reo lên:
- A! Cái quạt. Để em vẽ mấy cái nút nha. Mấy chữ O, phải không chị?
- Hì, vậy là biết tại sao cứ phải vạch đường thẳng, vẽ mấy cái hình vuông vuông, tròn tròn, nhọn nhọn... rồi hả? Chúng ta phải tập làm chủ đôi tay. Công cụ là để hỗ trợ, không phải để lệ thuộc vào chúng.
- Dạ. Khi nào thì em sẽ vẽ được như chị?
- Ồ! Cứ kiên nhẫn đi nhóc. Nếu em chịu khó thì không lâu lắm đâu.
Trong khi nói, tôi hơi ngoảnh ra phía cửa sổ vì thoáng thấy một khuôn mặt. Nhưng khi tôi nhìn thẳng ra thì chỉ thấy cành lá lao xao. Hình như tôi nghe Tép con trả lời lí nhí cái gì đó về thời gian. Tôi quay lại hỏi:
- Em vừa nói gì?
- Dạ không.
- Chị về nhé.
Tôi lẳng lặng ra cổng. Con đường dọc bờ sông với bờ kè cao, trông rất sạch đẹp. Có một thời, con sông bị đắp đập suốt mười mấy năm. Nước tù đọng, phèn mặn quện với rác, phân người, súc vật... nổi lềnh bềnh. Bây giờ, con đập không còn nữa, trả lại dòng sông nước lớn, nước ròng, trả lại hai bờ cây trái xanh tươi.
Tôi ngồi xuống bờ sông. Làn gió mát trong lành từ phía sông thổi đến, thật dễ chịu. Nó làm tôi thấy mình tự do như mây trên trời.
Khi quẹo vào cổng nhà mình, tôi thoáng thấy xe của ông nội Tép con đang trở về. Hẳn Tép con sẽ rất vui. Tép con rất yêu ông nội, nhưng ông thường xuyên đi vắng. Những khi ông nội ở nhà, nó luôn đi sau ông như dán keo. Ông làm thế nào, nó làm thế ấy. Ông nội nó, thật tiếc, chẳng mấy khi cười.
Mải nghĩ, tôi va vào người từ trong cổng nhà tôi đi ra. Lại cái ông đầu muối tiêu! Tôi bực bội nhớ việc anh ta chẳng thèm trả lời mình khi trước nên chỉ liếc một cái, toan đi luôn.
- Này, ít nhất cũng phải xin lỗi một tiếng chứ, cô va vào tôi kia mà?
- Xin lỗi!
- Từ ngữ gì mà phun ra, nghe đầy mùi khói lửa.
Giọng nói pha chút hài hước, không giống vẻ lạnh lùng khi trước, khiến tôi đứng hẳn lại nhìn thêm một chút vào gương mặt gai góc khó ưa đó. Kỳ lạ, anh ta biết cười, mà còn cười rất tươi nữa! Tươi mấy thì cũng mặc anh ta. Tôi đưa bàn tay xoa xoa trán, lặng lẽ quay đi.
Vào đến nhà, tôi vào trong lấy điện thoại ra, ngần ngừ nhìn cục sắt tôi đã không mở từ ngày ở lại quê. Cuối cùng, tôi cũng thắng được mình, đem cục sắt xinh xinh đó cất trở vào. Chợt nhớ về người tóc muối tiêu từ nhà mình đi ra, tôi kiếm cha hỏi:
- Cha ơi! Khách vào nhà mình khi nãy là ai vậy?
- Đó là con trai người bạn cũ của cha.
- Con biết bác ấy không?
- Con không biết đâu. Chỉ là một chuyến thăm hỏi xã giao thôi. Dạo này con thấy vui chưa?
Cha lãng chuyện là tôi hiểu ngay cha không muốn tôi hỏi gì thêm. Tôi cười rồi ra lan can ngồi nhìn chiều đang tàn trên con đường trước ngõ. Dáng anh chàng đầu muối tiêu xa dần cuối ngõ nhà tôi, in giữa không gian có màu vàng sẫm. Cây lá cuối trời mây sậm, trở màu xanh đen, cứ ngả nghiêng theo từng cơn gió mạnh. Bốn bên đồng không mùa nắng, đất nứt nẻ, cả cỏ cũng héo úa... Tất cả, tạo cho tôi cảm giác anh ta như kẻ cô đơn, lang thang tìm về một vùng trời hy vọng, ước mơ nào đó, dù rằng xem ra, cũng chẳng sáng sủa gì mấy trong buổi chiều tàn này. Tôi chợt bật cười vì những ý nghĩ của mình. Tôi có thể bị không gian và hoàn cảnh chi phối cảm xúc, nhưng không phải ai cũng ngớ ngẩn như tôi. Tự mình thương vay, rồi buồn hộ, dở hơi hết sức.
Từ ngoài ngõ, chiếc xe của ông nội Tép con rì rì chạy vào. Người lái xe mở cửa bước ra là người đọc sách. Cô đến báo cho tôi biết gia đình họ sẽ vắng nhà vài hôm. Khi nào về, họ sẽ ghé qua báo.
- A! Chị...?
- Tú. Tôi tên Tú.
- Dạ, chị Tú! Cả nhà đi ngay trong đêm sao?
- Dạ phải.
- Có cần gởi Tép con...
- Cám ơn cô, Tép con cũng đi với chúng tôi.
Khi Tú ra về, cô bỗng quay lại nhìn tôi cười buồn bã rồi mới lái xe đi.
Tôi ngồi trong bóng tối, nhắm mắt nghĩ lan man mọi thứ. Trong nhà tối om, cha vẫn không bật đèn. Hình như hôm nay cha cũng có nhiều ưu tư. 
******