Thứ Hai, ngày 14 tháng 9 năm 2009

TIẾNG HÓT CON CHIM CHÌA VÔI


Quê hương trong bóng con đò
Trong câu hát bội, trong lời mẹ ru
Quê hương trong tiếng lá reo
Tiếng chuông chùa đổ, khói chiều miên man
Quê hương trong vắt ao làng
Vẽ đôi cò trắng về ngang liếc nhìn
Ta đi mấy núi, mấy non
Thấy con đò - nhớ, thấy sông xa - buồn
Tiếng đàn bầu đầy nhớ thương
Bé Tú ngồi ở bậc cửa sau nhà, nhìn con chim chìa vôi với bộ lông có hai màu đen và trắng đang nhảy nhót trên cây me mọc sát bờ sông. Mỗi lần con chim cất tiếng hót, Tú lại cười khanh khách vì giai điệu hót của con chim giống hệt như một câu cha hay nói: “Tú ơi, bây giờ Tú sợ bị đét, bị đét!”. Tất nhiên là còn thiếu một chữ quan trọng mà cây roi của cha hay hăm he, bởi vì tiếng hót của chú chim chìa vôi chỉ có thế.
Ông Nhã nghe tiếng con gái cười, ông cũng cười một mình. Nó chịu cười, vậy là có thể để nó lại quê với ông bà. Ông nghe tiếng cha mình đang trò chuyện với con gái, tiếng bé Tú vui vẻ nói chuyện véo von với ông nội. Thì ra nó đang nói cho ông nội nghe vì sao nó cười khi nghe con chim chìa vôi hót. Tiếng mẹ ông cười hỏi bé Tú:
- Vậy con đã bị cha đét đít bao giờ chưa?
- Dạ chưa. Cha chỉ hăm dọa thôi, con biết mà.
Hai ông bà già rất mừng vì cuối cùng con trai đã chịu gởi đứa út xinh xắn về quê với mình. Mỗi lần ông bà nội lên Sài Gòn thăm con cháu, cô bé út này hay quấn lấy ông bà nói đủ thứ chuyện và cười suốt ngày. Không như mấy đứa lớn, chỉ chào hỏi xong là biến đâu mất.
Thật ra ông Nhã không muốn xa đứa con út. Ngày nào đi làm về, ông đều thấy bé ngồi trên bậc tam cấp trước cửa, hai bàn chân nhỏ xinh nhịp nhịp, bàn tay bé xíu chống cằm chờ ông. Gương mặt sáng rỡ vẻ tinh nghịch rất đáng yêu của nó luôn làm ông cảm thấy mọi mệt nhọc sau một ngày làm việc đều không còn. Viện cớ bé Tú còn nhỏ quá, về cha mẹ không tiện chăm sóc, hè năm ngoái, ông Nhã cho con gái lớn đang học lớp mười về. Ở chưa hết một tháng, con gái khóc lóc đòi về Sài Gòn vì ở quê buồn quá. Hai đứa kế thì lắc đầu quầy quậy khi nghe cha hỏi. Chỉ mỗi cô nhóc nhất nhà thì vừa nhảy nhót, vừa vỗ tay vì được về quê thăm ông bà nội.
Bé Tú rất thích vì ông bà cho quá trời đồ chơi. Nó ngồi giữa một đống đồ chơi, chỉ hơi ngoảnh lại khi ông Nhã đi. Ông Nhã đã ngồi lên chiếc Vespa, nhưng lại quay trở vào, bồng con gái lên áp chặt vào ngực. Ông cố tình đưa cái cằm râu mấy ngày không cạo, cọ vào má nó. Bé Tú nhột, cười khanh khách. Nó lấy tay đẩy mặt cha ra bảo:
- Mặt cha toàn là gai, không cho hun nữa đâu.
- Con ở đây với ông bà nội, chủ nhật cha về thăm con.
- Dạ. Cha đi đi, cho con xuống chơi đồ chơi.
Ông thả xuống là nó chạy vào giữa đống đồ chơi ngay.
Mới xa con gái một chút, ông Nhã bắt đầu thấy nhớ. Bình thường, ông không như thế này. Có lẽ vì ông biết từ nay, mỗi chiều sẽ không thấy cô bé ngồi nhịp chân, chống cằm mong đợi ông trên bậc thềm nhà.
Buổi tối, bé Tú hỏi:
- Nội ơi, sao không thấy cha về? Trời đã tối rồi mà?
- Mấy ngày nữa cha mới về.
- Mấy ngày là trời sáng hả nội?
- Ừ.
- Bây giờ tối quá, cha không thấy đường chạy xe đâu. Con buồn ngủ quá, khi nào cha về, nội nhớ gọi con nha.
* * * * * *
Chỉ vài ngày là bé Tú chán đồ chơi. Nó lang thang trong vườn một mình. Một buổi trưa, bà nội bắt gặp bé Tú đang ngồi nói chuyện với mấy con kiến đang bò dưới kẽ đất bên hông nhà:
- Mình bây giờ, mình nhớ cha mình lắm. Mình nhớ chị Ngọc Diệp, anh Hiếu Dũng và chị Ngân Hoa nữa. Không ai về chơi với mình. Mình bây giờ, mình buồn lắm.
Giọng bé rưng rưng như sắp khóc. Bà nội thương quá lại ôm nó vào lòng nói:
- Con có muốn về nhà với cha và anh chị không?
- Dạ có.
- Nhưng con đi thì ông bà buồn lắm, làm sao đây?
- Ông bà buồn như con bây giờ đó hả?
- Ừ. Buồn muốn khóc luôn.
- Vậy con không đi, con ở đây nha, nội đừng khóc.
Bé Tú đưa bàn tay nhỏ vuốt má bà nội, đôi mắt nó mở to nhìn chăm chú xem bà nội có vui không, thấy bà cười mà nước mắt tràn ra mi, nó ngập ngừng hỏi:
- Sao bà nội khóc?
- Bà nội không khóc, bà vui vì con không bỏ ông bà nội mà đi.
- Nhưng con buồn lắm, con phải khóc mới được.
Nói xong, bé Tú khóc òa lên. Ông bà nội luýnh quýnh không biết làm sao, chỉ biết loanh quoanh đưa hết thứ này, đến thứ khác cho nó chọn, nhưng nó đều lắc đầu. Phải gần cả tiếng đồng hồ nó mới ngưng khóc.
Từ hôm ấy, bé Tú không nhắc đến chuyện đòi về. Ông bà biết nó vẫn rất mong cha vì ngày nào nó cũng tự tay bóc tờ lịch và thông báo với ông bà hôm đó là thứ mấy. Chiều thứ bảy nào nó cũng bắc cái ghế con ngồi ngoài ngõ, chỉ chờ thấy bóng xe cha nó ở đầu đường là hối hả chạy ra đón. Cả ngày chủ nhật, nó quấn quít bên cha, dẫn cha đi xem hàng cây cải hay hàng ớt nó mới trồng, rồi bắt cha nó xách nước tưới cho cây của nó. Sáng thứ hai khi cha nó đi thì nó vẫn còn ngủ. Lúc dậy rồi, nó chỉ làm một chuyện là lại xé một tờ lịch và thông báo.
* * * * * *
Ông nội dẫn bé Tú xin vào học dự thính lớp một vì bé chỉ mới sáu tuổi. Cô giáo thấy bé đã biết đọc, biết viết liền cho bé học chính thức.
Bé Tú có bạn, hôm nào đi học về cũng kể cho ông bà nghe chuyện bạn bè, chuyện thầy cô… Nó đi học thì thôi, nó về là trong nhà luôn vẳng tiếng nó cười khanh khách hoặc hát véo von. Ông nội hay nói:
- Con bé này hay cười, cuộc đời nó sẽ rất tốt đẹp.
Những ngày cận Tết, bé Tú cứ lon ton xách nước ra tưới mấy cây mai mà ông nội đã suốt lá. Nó nghe ông nội nói: Khi nào mai nở thì Tết đến. Nghĩa là cha và các anh chị sẽ về. Đợi hàng chục ngày mà nụ mai vẫn cứ chi chít, bum búp, không chịu to ra, nó nói:
- Ông nội ơi, cây không có lá nên chết mất rồi.
- Không sao đâu, khi nào cận ngày, ông nội dùng vòi phun tia lên cành, búp sẽ lớn, mai sẽ nở vào đúng giao thừa. Sáng mùng một là vàng rực cả vườn nhà mình luôn.
Mãi đến 27 Tết, các anh chị mới về, còn cha thì tận chiều 29 Tết mới về. Những ngày đó, bé Tú vui lắm. Nó suốt ngày đi theo các anh chị, cũng lăng xăng phụ chùi bàn ghế, phụ chà lư đồng…
Chiều 30, ông Nhã chọn một nhánh mai to và nhiều nụ nhất, cắt đem vào chưng bàn giao thừa. Bé Tú rất thích ngồi nhìn cha cắt giấy đỏ thành chữ: chúc mừng năm mới, dán lên mấy trái dưa hấu to đùng đặt trên các bàn thờ và bàn giao thừa.
Trong khi chờ giao thừa, ông Nhã ngồi trò chuyện với cha mẹ, những đứa con ngồi chơi đánh bài ba cào. Tiếng bé Tú lanh lảnh:
- Không thèm chơi nữa, bàn nào cũng thua, hổng cho em ăn gì hết.
Tiếng Ngọc Diệp an ủi:
- Lát nữa chị đêm bài cho em ăn nha.
- Đêm cho em ba cào già!
Tiếng Hiếu Dũng:
- Trời ơi, nó còn đòi ăn cào bự nhất nữa.
Tiếng Ngân Hoa:
- Anh phải nhường nó chứ, tội nghiệp nó ở quê mà.
- Cái gì mà tội nghiệp chứ? Phải nhường em đó nha. Hổng ăn bàn này là em… khóc cho mà coi.
Tiếng cười nói ồn ào của những đứa con làm căn nhà thật ấm áp, cộng thêm những chiếc đèn măng – sông (manchon) sáng choang, treo từ nhà trên xuống tận nhà bếp, khác với những ngày thường, ngay cả ban ngày còn cảm thấy lúc nào cũng có cái vẻ âm u, vắng lặng.
Đồng hồ vừa chỉ đúng mười hai giờ đêm, Hiếu Dũng liền châm dây pháo treo ở trước cửa giữa. Mọi người đốt nhang theo ông bà nội đi cắm vào các bàn thờ. Xong xuôi thì xếp hàng chúc Tết cho ông bà nội. Ông Nhã bổ dưa trên bàn giao thừa. Ruột dưa đỏ tươi và hơi cát, mẹ ông cười khen:
- Mua dưa khéo lắm, đỏ như thế tức là một năm gặp nhiều may mắn.
Đêm trước ngày cha và các anh chị sẽ trở lên Sài Gòn, bốn anh chị em không chịu ngủ, cứ rúc rích mãi. Ông Nhã hăm he, chúng mới chịu yên. Nhưng, ông vừa nằm xuống thì chúng lại thức dậy ra ngồi ở bậc tam cấp cửa trước cười giỡn tiếp. Lần này, ông Nhã liền cầm cây chổi lông gà đi lên nhà trên, quất vào mặt bàn một cái “trót”. Ba anh chị lớn hoảng hốt, co giò chạy tứ tán ra ngoài vườn. Bé Tú ngược lại, chạy đến ôm chân cha mếu máo:
- Mai cha và các anh chị đi rồi nên các anh chị muốn chơi thêm với con mà.
- Cha biết. Nhưng phải để ông bà ngủ chứ. Ồn ào như thế thì không ngoan, có biết không con?
Ông ngồi vào chiếc ghế bành, bồng con lên. Bé Tú nép vào lòng cha dặn:
- Chủ nhật tới, cha nhớ về thăm con nha.
- Ừ.
Vừa lúc đó, ông nghe tiếng mấy đứa con ré lên um sùm ngoài vườn:
- Ma! Cha ơi! Ma!
Ông Nhã bồng luôn bé Tú chạy ra cửa, lia đèn pin hỏi:
- Ma ở đâu? Các con ở đâu?
Từ ba hướng khác nhau, Ngọc Diệp, Hiếu Dũng, Ngân Hoa hớt hải chạy vào nhà.
- Ma ở đâu?
- Dạ, không có – Ngân Hoa trả lời – lúc nãy cha la, con sợ cha nên chạy ra vườn. Nhưng, ngoài vườn bây giờ tối thui à!
- Mấy đứa kia, cũng vậy phải không?
- Dạ.
Tiếng mấy đứa con bẽn lẽn làm ông Nhã buồn cười quá. Thì ra, ban đầu chúng sợ cha hơn sợ ma. Đứng trong tối một mình thì sợ ma hơn sợ cha. Ông ký đầu con gái lớn:
- Làm chị cả mà cứ đầu têu cho các em như thế, lần này, cha tha cho đó. Không có lần sau đâu.
Chưa hết mùng ba tết, mọi người đã đi. Bé Tú không muốn nhìn cảnh cha và anh chị đi nên ra cuối vườn ngồi. Mọi người phải đi kiếm nó. Chị Ngọc Diệp ôm nó nói:
- Em đừng buồn, khi nào rảnh, anh chị lại về thăm em mà.
- Dạ.
Mấy cha con lấy bé Tú làm cục nhưn, ôm nó muốn nghẹt thở. Bé Tú buồn buồn nói:
- Cha và anh chị đi đi, con muốn ngồi đây một mình.
Sự trống vắng trong lòng bé Tú còn nhiều gấp mấy lần hồi nó mới về quê. Có lẽ vì niềm vui đoàn tụ những ngày Tết quá nhiều, nên nỗi buồn mới càng sâu trong lòng nó.
* * * * * *
Bé Tú xách cái rổ tre, đi cùng bà nội ra vườn hái rau càng cua. Nó rất thích cái món càng cua bóp sổi, vừa chua, vừa ngọt, vừa nhân nhẫn của bà nội làm. Ở nhà quê, nó hiếm khi thấy bà nội đi chợ, thứ gì cũng có sẵn.
Vườn nhà nội rộng gần 40 sào. Một mặt quay ra sông, một mặt giáp với miếng ruộng rẫy trước nhà. Gọi là ruộng rẫy để phân biệt với ruộng đồng. Ruộng rẫy có nước sông ra vô, chỉ cấy lúa vào mùa mưa, khi nước sông ngọt. Mùa nắng, ruộng rẫy chỉ là một cánh đồng sình, nước mặn, nơi mà lũ cá kèo, cồng quều, cồng voi… ra phơi nắng và ăn bùn. Ruộng đồng mùa nắng khô nứt đất, đi không khéo thì bị nhét dép xuống kẽ. Mùa mưa, nước mưa xuống ngập đồng thì người ta gieo mạ, cấy hoặc xạ.
Trong vườn thì rau, trái khắp nơi. Chỉ riêng những rau cỏ hoang đã ăn không hết. Ăn canh thì có mồng tơi, bù ngót… mọc đầy dọc hàng rào. Ăn xổi thì có càng cua. Ăn sống thì có rau đắng, rau má… Ấy là chưa nói đến mấy thứ rau, quả mà ông bà nội trồng như: dưa leo, dưa gang, cà chua, đậu bắp… Cây hàng niên thì có vú sữa, xoài, mãng cầu sim, mãng cầu ta, mít, ổi, quấc… Tha hồ mà kể cũng chưa hết cây trái trong vườn nhà nội.
Thức ăn mặn thì tôm cá dưới sông nhiều vô kể. Nhưng bé Tú chỉ thích nhất là đi vòng lũ cá kèo trên ruộng. Hôm trước, ông nội đã làm cho nó một cái cần câu, có sợi dây cước ngắn nơi đầu thành một cái thòng lọng. Nó đi dọc bờ ruộng, chỗ nào nổi đầu cá kèo to là thòng dây xuống, tròng vô đầu con cá và giật. Thòng lọng xiết chặt và thế là con cá lên đường… chui vào giỏ của bé Tú. Tiếng nó cười làm lũ cá hoảng hốt lủi xuống nước. Vậy là bé Tú biết con cá sợ âm thanh.
Khi nước ròng, nó đi bắt cồng quều. Đợi khi nước vừa lớn, mới chảy vào ruộng, nó lấy cái vợt ra, bỏ lũ cồng đã bị tách mu, nhử cá hủng hỉnh. Lũ cá hủng hỉnh nghe mùi tanh, nhào tới đông như hội, ăn ăn, xé xé. Chỉ nhử được mấy lần là lũ cồng chỉ còn trơ cái xác vôi.
Cá hủng hỉnh nấu cám là món ăn khoái khẩu của con heo mọi mà bé Tú rất cưng. Ông bà nội cứ cười nó mãi vì chuyện ngày nào cũng lôi con heo nhỏ xíu đó ra tắm rồi thay cái nơ mới ở cổ cho nó. Heo con khó chịu vì cái nơ, vừa thả tay là chạy luôn ra vườn lăn lộn bằng mỏi mà vẫn chịu, không sút được cái nơ mới đành thôi. Nhưng con heo và cái nơ thì đất bẩn như nhau. Có khi còn xấu xí hơn là cứ mặc kệ nó.
Tháng nắng, bé Tú rất thích đi nhặt ốc dừa về cho bà nội luộc với lá ổi và lá me. Khi nước lớn đầy ruộng, những cái gốc rạ mục nổi lên mặt nước, trên đó, chi chít những con ốc dừa, bé chỉ bằng cái móng tay người lớn, tha hồ mà nhặt. Thịt ốc dừa rất ngọt và thơm.
Tháng mưa, ruộng lúa xanh um, muốn ăn ốc dừa thì lội ra hàng dừa nước ở mé rạch, mé sông. Ốc dừa bám trên các bẹ dừa, cứ lựa con to mà lượm, cho vào giỏ.
Ông nội còn dạy bé Tú đi bắt tôm tít ngoài sông và cách phân biệt hang tôm tít với hang rắn, hang cá bống sao, rồi mò chem chép về nấu canh...
Nó bắt được nhiều tôm cá quá, đâm ham, hôm nào cũng đòi ông nội dẫn ra sông. Tôm cá ăn không hết, nó cứ bắt về rộng đến ốm nhom trong mấy cái khạp. Có hôm, ông nội không đi, thế là nó một mình, lén xách giỏ ra sông. Báo hại ông bà nội dáo dác đi kiếm, thấy nó rồi, ông bà nội la cho một mẻ tưng bừng, rồi lại ôm nó khóc. Bé Tú phải hứa không một mình ra sông nữa.
* * * * * *
Buổi chiều, bé Tú đi một vòng quanh vườn hái càng cua, mồng tơi và bù ngót, bó một bó to mà nó phải ôm lặc lè mới ra được ngoài sân, hứng sương. Ông bà nội ngạc nhiên hỏi:
- Hái làm chi mà nhiều dữ vậy Tú, ăn sao hết?
- Cái này để mai con đem vào trường nộp kế hoạch nhỏ.
- Sao không nộp giấy cho gọn, nộp rau thì làm sao? Không lẽ thầy trò đem ra chợ bán?
- Thì đúng là tụi con đem ra chợ bán mà!
- Con tham quá, bó to như vậy làm sao đem đi?
- Thì ông nội đem dùm con!
Ông bà nội cười: bé nhóc nhà mình tính sẵn rồi, có ông nội làm phu khuân vác!
Lũ học trò đem cây nhà, lá vườn đi nộp kế hoạch nhỏ. Đủ thứ rau củ, chất thành một đống to như cái chợ rau: mướp, dưa leo, cà chua, rau muống, cải… Thầy Cô đứng nhìn mà ngẩn ngơ, không biết làm cách nào cho đống thập cẩm đó bay ra chợ? Rồi biến thành tiền? Cũng may là có ông nội, ông kêu người đem xe đẩy tới, đẩy đi.
Mấy thầy trò ra chợ bán. Người mua – cũng là phụ huynh, ai cũng ghé vô mua một ít, đắt hàng thấy mê! Chắc kế hoạch nhỏ năm sau, bổn cũ xài lại quá!
* * * * * *
Ở nhà không có bạn, bé Tú một mình chơi trốn tìm với mình. Có hôm, nó chạy mệt quá, chui nấp đằng sau kẹt bồ lúa và ngủ quên luôn ở đó. Lại một phen ông bà đi kiếm.
Nó cũng chán trò trốn tìm một mình bèn xoay ra tập viết chữ cho đẹp. Cứ cuốn tập có một vết dơ là nó bỏ, viết lại từ đầu. Ông nội cắt những giấy trắng, đóng thành một cuốn tập cho nó làm nháp. Cuốn tập của ông nội đóng đẹp quá, thế là nó bắt ông nội cắt tập ra để đóng. Ông nội bảo:
- Tập đóng là vì tiết kiệm giấy. Tập còn nguyên mà cắt để đóng thì uổng lắm.
- Nhưng con thấy nó đẹp hơn!
Ông nội nói cách nào, nó cũng không chịu. Thế là từ đó, nó luôn có những cuốn tập khác người.
Lúc này, nó đã viết chữ rất đẹp và ngay hàng. Nó không còn thích những cuốn tập kẻ ô sẵn, mà chỉ thích giấy trắng tinh, không hàng mà cha nó phải đem từ Sài Gòn về cho ông nội đóng sổ cho nó tập vẽ. Trên nền giấy trắng, chỉ có chữ bằng mực tím nổi rõ, ngay hàng, thẳng lối, nhìn mới mê chứ.
Hồi đó, bé Tú rất thích học cách viết chữ Pháp của ông nội. Nét chữ nghiêng nghiêng, nét đậm, nét nhạt, nhìn rất thích mắt. Nó phải tập rất nhiều ngày mới có thể viết coi được.
Thầy giáo mắng vốn ông nội vì bé Tú không chịu xài tập có kẻ ô như các bạn. Ông nội hỏi:
- Nó viết chữ có lên bờ, xuống ruộng không?
Thầy giáo phải công nhận rằng: Nó viết ngay hàng.
Ông nội lại hỏi:
- Nó viết tập nó, có ảnh hưởng tới bạn bè không?
Thầy lại phải nói rằng: tất nhiên là không. Không đứa nào học lớp ba mà thích viết tập không hàng như nó. Có hàng mà còn trèo lên, té xuống ì xèo! Nhưng một đứa bé mới 8 – 9 tuổi thì không nên làm chuyện khác người. Cần phải tập cho nó tính hòa đồng với tập thể.
Ông nội hỏi:
- Thế nào là khác người? Thế nào là hòa đồng? Con nít luôn thích làm những chuyện cho là mới lạ với nó. Chẳng mấy ngày thì nó chán thôi. Càng cấm, nó càng lỳ ra, chưa kể đến chuyện nó khóc nhè thì phiền lắm lắm – ông nội nói xong thì cười khà khà.
Thầy giáo lắc đầu nghĩ:
- Ông vậy thì cháu làm sao mà khác được! Chỉ sợ không uốn nắn từ bé, mai này càng lớn càng kiêu, tưởng mình là ai, chỉ tội cho bé Tú – đó là điều thầy chỉ giữ trong lòng. Thầy cũng biết cha bé Tú đang là hiệu trưởng một trường nào đó ở Sài Gòn. Nói nhiều giống như vẽ rắn thêm chân - nhưng con bé thật dễ thương. Còn nhiều thời gian mà, mình sẽ từ từ nghiên cứu chuyện này.
Vậy là huề vốn, bé Tú cứ tập không hàng mà viết. Buồn buồn, thầy cho một hàng chữ phê bằng mực đỏ: Còn sai nhiều lỗi chính tả!
Bé Tú hỏi:
- Ông nội ơi, làm thế nào để không sai chính tả? Rõ ràng thầy đọc sao, con viết vậy mà? Làm sao để biết khi nào bỏ dấu hỏi, khi nào bỏ dấu ngã?
Ông nội ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:
- Cứ đọc nhiều sách là hết sai lỗi chính tả!
- Tại sao đọc nhiều sách thì hết sai hả ông nội?
- Con đọc đi thì biết tại sao. Con hỏi hoài, ông nội chẳng biết đường nào mà lần.
- Ông nội trồng bí rồi! – bé Tú cười.
Tủ sách của ông nội toàn sách tiếng Pháp và sách chữ Nôm. Chỉ lèo tèo mấy cuốn truyện cổ kinh điển: truyện cổ tích Việt Nam, truyện cổ Đan Mạch của Andecxen, Ngàn lẻ một đêm và cuốn Thần thoại Hy Lạp. Đọc có mấy ngày đã hết, bé Tú ngắm nghía cái thư viện trường, nhưng sách chỉ để thầy cô mượn, đâu có cho học trò lớp ba đọc.
Cô thủ thư thấy cô bé cứ lấp ló ở cửa thư viện, nhìn những dãy kệ sách một cách thèm muốn, liền hứa tháng sau, khi cô kiểm sách xong, sẽ cho nó mượn về nhà. Bé Tú mừng rơn.
Từ ngày được mượn sách, bé Tú đọc với tốc độ chóng mặt. Cảm giác của nó khi cầm một cuốn sách chưa đọc như là cầm trong tay một bí mật, phải nhanh nhanh biết mới được.
Nó cũng không để ý rằng những ngày sau đó, không còn thấy hàng chữ phê bằng mực đỏ của thầy về tội sai lỗi chính tả. Thế giới của bé Tú giờ là những cuốn sách. Việc bị sách bỏ bùa mê thoạt đầu không ảnh hưởng gì đến nó nhiều vì nó có một trí nhớ rất tốt. Bài giảng, bài học thuộc lòng… nó chỉ đọc qua một lần là có thể viết ra giấy để tự kiểm tra xem mình đã thuộc chưa, lại vừa là cách luyện chữ viết. Phải nhanh, gọn để còn đi đọc sách mà. Chuyện chỉ ảnh hưởng khi nó vào cấp II, khi mà việc học không chỉ có trí nhớ tốt là đủ.
* * * * * *.
Năm bé Tú học lớp sáu, nó không còn được học ở cái trường cấp I cổ kính, mái ngói rêu phong và khoảng sân rộng trồng mấy cây điệp già.
Trường cấp II nằm cạnh sân banh. Năm nay, trường mới xây thêm một dãy có 4 phòng học vách lá, mái tôn.
Lớp học của bé Tú lại ở nơi mới dựng. Đầu năm học, vách lá nguyên nếp, đưa cái sống lá dừa nước ra ngoài, có màu nâu đỏ rất đẹp.
Khổ nỗi đám nhóc ngứa tay, đi qua, xé một cái, đi lại xé một cái. Ngồi trong lớp học, mấy đứa nào ngồi gần vách lá, buồn tay, xé một miếng. Ra chơi còn tệ hơn, chúng xé vách thông hai phòng để có lỗ bắn dây thun vào “kẻ địch” phía lớp bên kia!
Đến giữa năm thì vách lá xơ xác một cách thảm hại. Từ trong lớp, có thể nhìn thông thống ra ngoài sân. Thầy hiệu trưởng bắt học sinh trong bốn lớp nhà lá ra xếp hàng giảng cho một bài "đạo đức kinh" về giữ gìn của công. Sau đó, mỗi đứa phải góp giấy bìa tập và hồ sao cho đủ để dán kín vách lá bị xé. Mỗi đứa phải viết lên đó một hàng chữ: Không được phá hoại của công.
Được lời thầy hiệu trưởng, bọn nhóc nhân đó mực đỏ, mực đen viết loạn cả lên, cấm đủ thứ, rối còn cả ký tên, vẽ mộc, vẽ đầu lâu bắt tréo sọ người... trông chẳng khác gì tấm bùa trấn quỷ! Thầy cô than trời, lắc đầu chịu thua. La mãi chỉ thêm khan tiếng. Cổ họng thầy cô nào cũng bị viêm mãn tính, giọng khàn khàn cả, chẳng còn mấy hơi thừa để "trấn tà" cho bọn học trò quỷ quái này nữa.
Ông nội vẫn ngày ngày đưa bé Tú đi học.
Hồi trước, trường cấp I gần nhà, chỉ đi khoảng 15 phút là tới. Ngôi trường nằm quay ra đường cạnh bờ sông, nước sâu và chảy xiết. Bé Tú nhỏ, ông nội không muốn nó đi một mình nên đưa đón.
Bây giờ lên cấp II. Nhà xa trường hơn. Trường cấp II xây kế đường lộ, khoảng cách khá công bằng cho mọi học sinh trong làng đến học.
Cha nó đã đem về một chiếc xe đạp cho con gái đi học. Ông nội không cho đạp đi, vẫn ngày ngày dắt bộ bé Tú đến trường. Ông Nhã biết được, vừa sợ cha già mệt, vừa xót con gái nên nói:
- Cha à, cho nó đi xe đạp đi. Cha già rồi, ngày nào cũng bốn bận đi về mấy cây số giữa nắng mệt lắm.
Ông nội nói:
- Chỉ có hơn một cây số. Ông cháu đi bộ như tập thể dục cho giãn gân cốt, có gì mà mệt.
Quay qua bé Tú, ông nội kiếm đồng minh:
- Đúng vậy phải không Tú?
- Hổng đúng gì hết à! Ông nội bắt đi bộ xa quá, đường đất đá đỏ, sạn cứ nhét vào giày con, ngay chỗ ngón út đó, đau lắm.
- Đau chỗ nào, sao không nói cho ông nội nghe?
Ông nội vừa nói, vừa cúi xuống xem bàn chân bé Tú. Ngay góc ngón út của bàn chân bé Tú có một cục vừa phồng, vừa chai màu tai tái, hồng hồng. Hằn là bị thường xuyên đến nỗi chai đi và bé Tú vẫn chịu đau, không chịu nói, bây giờ mới nói ra. Ông nội thương quá la:
- Con bé này lỳ thiệt! Đau như vậy mà cứ làm thinh, làm sao ông nội biết? Lúc đau, sao không bảo ông nội cõng đi?
- Chỉ có em bé mới cõng chứ. Con bây giờ lớn rồi, ông nội cõng, bạn con nó cười chết. Hồi đầu năm trời mưa, ông nội có cõng con một lần. Tụi nó chọc quê con đến giờ mới quên.
- Thôi để ông nội tập cho con đi xe đạp rành, đạp xe đi học vậy.
- Dạ.
Bé Tú thích ý cười tươi rói. Cái chính là từ nay nó có thể đi học một mình.
Ông bà nội hay kể về làng quê ở đây cho nó nghe. Có nhiều câu chuyện rất ấn tượng và nó muốn tận mắt nhìn thấy. Bị ông nội kè kè một bên, không đi đâu được. Về nhà thì lúc nào cũng chỉ loanh quanh tự chơi với mình. Ông bà nội không cho trẻ con hàng xóm vào, ngay cả người lớn cũng chỉ đến vào những dịp giỗ chạp, lễ tết hoặc ngày mùa.
Bây giờ thì có thể tranh thủ tham quan làng quê. Bé Tú mừng rỡ đến nỗi, lần đầu tiên leo lên xe đạp đã chạy một lèo ra tới đầu lộ, không thèm chờ ông nội vịn yên cho.
Ông nội vừa ra ngõ đã thấy bé Tú tít xa xa ở cuối con đường, hai chân guồng bàn đạp khí thế. Ông nội giơ hai tay lên trời:
- Thôi rồi, chưa kịp dạy nó bóp thắng!
Bé Tú chạy xe đạp trên con đường từ ngõ ra lộ. Ban đầu vì vui thích và nghĩ chuyện đi xe đạp có gì khó đâu, cần gì phải chờ ông nội dạy. Đường vào nhà nó rất rộng, chỉ thua con lộ đỏ. Hai bên đường là hai hàng dừa xiêm có rất nhiều trái. Ngày xưa, bác nó còn đậu trực thăng trên đường này khi về thăm ông nội. Mỗi lần cha chở nó về quê, nó thường đứng đằng trước chiếc vespa, phụ bẻ lái với cha đó thôi.
Ra tới lộ, có nhiều người đi trên đường, bé Tú muốn ngừng nhưng không biết làm sao để chiếc xe ngừng. Nó chỉ biết lái xe né qua, né lại, bụng bắt đầu sợ run vì cũng không biết làm sao quay về nhà với ông nội hoặc leo xuống khỏi cái xe đang phóng như điên. Hai cái chân nó vẫn guồng bàn đạp. Lòng nó sợ hãi, nước mắt bắt đầu tràn nhòa mắt mà nó không biết làm sao để chùi. Tay lái vẫn lái chiếc xe đạp càng chạy, càng xa.
Vừa lúc đó, có một thằng nhóc đạp xe chạy lên song song với bé Tú, nó nhìn qua hỏi:
- Ê, mày bị điên hả?
- Mày điên thì có!
- Sao mày vừa khóc, vừa chạy như ma đuổi, xém chút té chết tao rồi, mày có biết không?
Bé Tú không dám đảo mắt đi đâu, cũng không nhìn được mặt thằng nhóc. Nó chỉ bực bội trả lời:
- Mày sống nhăn đó, chết hồi nào?
- Để tao cho mày biết mùi bị cúp đầu là sao.
Thằng nhóc vừa nói xong liền chạy vượt lên, cúp ngay đầu xe bé Tú. Nó không biết thắng, làm sao ngừng lại! Vậy là nó lủi luôn xuống ruộng lúa xanh um, té chỏng gọng, đè mẹp vô số lúa.
Thằng nhóc ngừng xe, trố mắt nhìn nó:
- Ủa! Sao mày té vậy?
Bé Tú vừa giận, vừa mừng. Cuối cùng nó đã thoát được cái xe điên. Đến lúc này, nó mới nhìn rõ mặt thằng nhóc. Ở đâu ra mà có thằng Miên đen dữ, tóc nó cứ xoăn tít như dán vào da đầu.
Thằng bé thấy bé Tú đứng dưới ruộng, quần áo ướt nhem, dính đầy bùn sình, chỉ liếc nhìn nó rồi lại ngó chiếc xe đạp. Nó cười cười dựng xe, xuống vác luôn cái xe bé Tú lên vai và lội lên bờ.
Bé Tú lên theo, đứng nhìn thằng nhóc kiểm tra lại xem chiếc xe của nó còn chạy được không. Kiểm tra xong rồi, nó nói:
- Xe mày tốt thiệt! Té cái rầm mà hổng “xi nhê” gì, chỉ hơi niễng tay lái. Cái này tao làm chút là xong.
Nó kẹp hai chân vào bánh trước, hai tay nắm hai tay lái vặn một cái. Nó nhìn nhìn, ngó ngó như rành nghề lắm, lại vặn qua bên kia một chút. Rồi lại nhìn ngó, vặn bên này một chút. Vặn ba bốn lần qua lại gì đó, nó có vẻ vừa ý, bước ra.
- Được rồi, mày đi đi.
Bé Tú chẳng nói một lời, nó lẳng lặng dắt bộ xe đi ngược trở lại. Bây giờ nó mới nghe đau nhức ở đùi, hông và sau cổ như bị trặc, làm cái đầu nó rất khó cử động. Sự đau đớn trong mỗi bước đi làm nó không kềm được, lại chảy nước mắt.
Thằng nhóc kêu lên:
- Sao mày không đạp xe về? Sao mày khóc?
Không thấy bé Tú trả lời, lại thấy bé Tú đi cà nhắc, nó chạy tới:
- Mày bị đau, hổng chạy xe được hả? Để tao chở mày về.
Nó đem xe mình để xuống mé ruộng, lại giằng cái xe ra khỏi tay bé Tú, leo lên:
- Mày lên đi.
Dọc đường, nó nói luôn miệng, cuối cùng cũng moi được lý do vì sao bé Tú chạy như điên trên đường. Nó cười nắc nẻ:
- Trời ơi! Có cái thắng cũng hổng biết xài, vậy mà biết chạy xe mới ghê! May là tao cho mày xuống ruộng, té trên đường đá dăm thì mày tiêu rồi.
Về đến nhà, ông bà nội nghe thằng nhóc kể, cám ơn rối rít (tất nhiên nó giấu biến cái vụ nó làm bé Tú té, chỉ kể thấy bé Tú không chạy về được nên chở về dùm).
Nó là con trai người giữ đình. Hôm đó, nó có nói tên nhưng bé Tú không chịu gọi, cứ gọi nó là ĐEN. Thằng nhóc hồi đầu ghét lắm, nhưng bé Tú gọi nó bằng cái giọng êm ái quá, nó rất thích nghe, đành thôi. Ừ thì Đen, mình cũng đâu có trắng, đen thật mà!
Thằng Đen không đi học. Nó ghét học chữ. Cha nó sợ nó ở không lêu lổng, bắt đi học nghề khắc bia mộ. Chỉ có nghề đó là học nghề còn được trả tiền công. Cha nó cũng sợ nó ghét chữ, bắt học nghề đục chữ chắc chẳng nên cơm cháo gì. Chừng nào nó bỏ việc hẳn tính tiếp. Không ngờ nó thích nghề đó, làm rất khéo tay, lại sáng tạo nhiều mẫu hoa văn lạ mắt.
Bé Tú đã từng nghe ông bà kể rất nhiều chuyện về cái đình làng, nơi nhà thằng Đen ở. Nó nhìn thằng Đen nói:
- Hôm nào Tú đến nhà mày chơi nha.
- Ừ! Muốn đến lúc nào cũng được. Đình làng mà.
******

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét